Phần 1: Tổng quan chung về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 1
1.1 Khái niệm………………………………………………………………………………………………. 1
1.2 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế………………………………………………………. 1
1.3 Quan điểm chung về hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta…………………………… 3
1.4 Các bước đi của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế………………. 5
Phần 2: Hội nhập kinh tế quốc tế qua các văn kiện Đại hội Đảng 9
2.1 Đại hội VI………………………………………………………………………………………………. 9
2.2Đại hội VII………………………………………………………………………………………………. 11
2.3 Đại hội VIII……………………………………………………………………………………………. 13
2.4 Đại hội IX………………………………………………………………………………………………. 17
2.5 Đại hội X……………………………………………………………………………………………….. 19
2.6 Đại hội XI………………………………………………………………………………………………. 20
Phần 3: Những kết quả của Việt Nam đạt được trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 27
3.1 Những thành tựu đạt được………………………………………………………………………… 27
3.2 Những thách thức đặt ra…………………………………………………………………………… 33

PHẦN 1:TỔNG QUAN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1.1 Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế, là sự gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới với các định chế kinh tế tài chính quốc tế. Trong đó, các nước cùng nhau thực hiện những “luật chơi” được hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh với nhau.

1.2 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Hình thức HNKTQT dưới góc độ chủ thể tham gia.
1/ Hội nhập đơn phương
Tự mỗi quốc gia nỗ lực cải cách một cách tự nguyện các điều kiện bên trong của quốc gia mình cho phù hợp với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, cũng như các quy định của các tổ chức khu vực và toàn cầu
2/ Hội nhập song phương
Hai nước ký kết các hiệp định song phương theo nguyên tắc của một khu vực mậu dịch tự do, song hành với các khu vực mậu dịch tự do đa phương
3/ Hội nhập đa phương
Nhiều nước tham gia vào các định chế quốc tế, hình thành các tổ chức khu vực và liên khu vực như Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) và các tổ chức kinh tế tài chính quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc Tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)…

1.2.2 Hình thức HNKTQT dười góc độ phạm vi, cấp độ của các mỗi quan hệ
1/ Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA)
Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất.
2/ Khu vực mậu dịch tự do (FTA)
Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Những năm gần đây, phần lớn các hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều. Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP- đang đàm phán).
3/ Liên minh thuế quan (CU)
Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối. Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.
4/ Thị trường chung
Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế.
5/ Liên minh kinh tế- tiền tệ
Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối). Ví dụ: EU hiện nay.
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70). Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.

1.3 Quan điểm chung về HNKTQT của Đảng ta
Một là: Hội nhập kinh tế quốc tế là do yêu cầu nội sinh, do yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị.

Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn liền với việc giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước. Ở đây chúng ta cần hiểu rõ, cần có tư duy mới về kinh tế độc lập tự chủ. Kinh tế độc lập tự chủ khác với kinh tế tự cung tự cấp. Độc lập tự chủ về kinh tế trong hội nhập là khẳng định mở cửa hội nhập để khai thác các mặt có lợi cho sự phát triển kinh tế của ta từ nền kinh tế thế giới. Do đó muốn bảo đảm độc lập tự chủ phải mở cả về cơ cấu kinh tế và cả về cơ chế kinh tế, phải đa phương hoá không để cho một nước nào, một nền kinh tế nào, một tập đoàn nào giữ vị trí độc quyền, chi phối bất cứ một lĩnh vực, một sản phẩm thiết yếu nào của nền kinh tế chúng ta. Phải tìm mọi cách tạo ra sự cạnh tranh giữa các đối tác và cũng đề phòng sự lợi dụng cạnh tranh của các tổ chức kinh tế quốc tế với chúng ta. Muốn giữ được độc lập tự chủ trong hội nhập phải giữ vững ổn định kinh tế, đối phó kịp thời với những tác động bất lợi từ bên ngoài. Bởi vậy cần xây dựng những sợi dây an toàn cho nền kinh tế quốc gia: chẳng hạn như xây dựng và thực hiện các mối quan hệ hợp lý trong tỷ lệ tích luỹ tối thiểu trong GDP, tỷ lệ vốn vay, tỷ lệ trả nợ hàng năm, tỷ lệ vay ngắn hạn và trung hạn, dài hạn, mức thâm hụt tối đa trong cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, tỷ lệ đầu tư trực tiếp của nước ngoài và đầu tư gián tiếp của nước ngoài qua cổ phiếu và trái phiếu, bảo đảm an toàn lương thực. Muốn giữ vững độc lập tự chủ trong hội nhập còn phải ra sức nâng cao năng lực làm chủ khoa học kỹ thuật, phải nhanh chóng đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi và đội ngũ cán bộ hành chính thạo việc. Và điều cốt lõi là phải phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho toàn dân, thực hiện công bằng, xã hội… Đây chính là nền tảng vững chắc nhất bảo đảm cho chúng ta vừa hội nhập kinh tế quốc tế vừa giữ được quyền độc lập tự chủ.

Ba là: Chúng ta chủ động hội nhập, dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả. Ở đây chúng ta cần nắm vững mối quan hệ biện chứng tuy hai nhưng là một của nội lực và ngoại lực. Nội lực là chính, là quyết định. Nhưng muốn phát huy tốt nội lực thì phải có sự tham gia của ngoại lực. Ngoại lực tham gia càng nhiều, càng mạnh thì càng xuất hiện nhiều và nhanh các khả năng tối đa để phát huy “nội lực”. Và ngược lại để tranh thủ được ngoại lực nhất thiết phải biết động viên tối đa nội lực.

Bốn là: Chúng ta phải nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu thị trường, xây dựng đồng bộ thị trường trong nước (thị trường hàng hoá, thị trường nhân lực, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản), để đủ sức hội nhập với khu vực và hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác.

Năm là: Song song với việc xây dựng sự phát triển đồng bộ thị trường, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng các doanh nghiệp vững mạnh. Doanh nghiệp là đội quân xung kích vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế. Doanh nghiệp được nói tới ở đây là bao gồm các doanh nghiệp, các công ty, tổng công ty của tất cả các thành phần kinh tế ở tất cả các lĩnh vực sản xuất hàng hoá thiết bị, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, tiếp thị và nhân lực.

Sáu là: Chúng ta phải chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, tích cực tham gia đàm phán thương mại, tham gia các diễn đàn, các tổ chức, các hiệp định định chế quốc tế một cách chọn lọc với những bước đi tỉnh táo và thích hợp.

1.4 Các bước đi của Việt Nam trong tiến trình HNKTQT
1.4.1 Đối với bên ngoài
Chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể. Đó là: Năm 1993 đã khai thông quan hệ với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB); 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO (cho đến nay, chúng ta đã tiến hành được 10 phiên đàm phán đa phương và kết thúc đàm phán với 20 đối tác song phương. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Phiên đàm phán đa phương thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tiến hành vào ngày 15/9, là phiên rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình đàm phán của Việt Nam với các đối tác đa phương. Việc đạt được thỏa thuận sớm với EU, một đối tác thương mại lớn có 25 nước thành viên, đã có tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam); ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), đồng thời tham gia vào AFTA và Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT); 3/1996 tham gia Diễn đàn Á – Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập; 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập APEC; 11/1998 được công nhận là thành viên của APEC; năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ…
1.4.2 Đối với trong nước
Chúng ta đã làm 3 việc cơ bản: Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập (Ví dụ: Luật Doanh nghiệp, Luật Công ty, Luật Đầu tư nước ngoài…); thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và hệ thống kinh tế vĩ mô và cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế; để thống nhất việc chỉ đạo quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 10/2/1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998-TTg thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế. Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo và điều hành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.

PHẦN 2: ĐƯỜNG LỐI HỘI NHẬP KINH TẾ QUA CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG
2.1 Đại hội VI
2.1.1 Chủ trương
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đặt ra từ Đại hội VI (năm 1986) trên cơ sở đường lối đổi mới và “mở cửa” nền kinh tế và trên cơ sở chính sách, quan hệ đối ngoại của Việt Nam với phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 (khoá VI) chỉ rõ: Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa,với các nước công nghiệp phát triển, với các tổ chức quốc tế và tư nhân và công ty nước ngoài trên bình đẳng, hai bên cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc, hạn chế đến mức thấp nhất cái giá phải trả.
2.1.2 Phương hướng, chính sách
Thực hiện chủ trương của Đại Hội VI, 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành đã tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tháng 5/1988, Bộ chính trị ra quyết định số 13 về nhiệm vụ chính sách đối ngoại trong tình hình mới đã đề ra chủ trương kiên quyết chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạn đối đầu sang đối thoại và hợp tác cùng phát triển, hòa bình; kiên quyết mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, đa dạng hóa mối quan hệ đối ngoại. Nghị quyết này đã đánh dấu tư duy quan hệ hợp tác quốc tế và đặt nền móng hình thành đường lối đối ngoại độc lập,rộng mở, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tê.
Với chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam là thành viên quan trọng trong ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), là thành viên tích cực của APEC, Diễn đàn Á – Âu (ASEM) và nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khác. Hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng được củng cố và mở rộng, Việt Nam đã k‎‎ý hiệp định thương mại song phương với Mỹ, đang đàm phán hiệp định đầu tư với Mỹ, Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản. Tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu.
Đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng cường vị trí ở các thị trường quen thuộc và với các bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trường mới, phát triển các quan hệ mới.

Tăng nhanh kim ngạch và cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định. áp dụng các chính sách tỷ giá và thuế khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu.
Chính sách nhập khẩu phải phục vụ có hiệu quả cho phát triển sản xuất và đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá, đáp ứng nhu cầu cần thiết về đời sống.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý xuất, nhập khẩu và quản lý ngoại tệ.

Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài vào nước ta đầu tư, hợp tác kinh doanh. Xây dựng thể chế đồng bộ, ổn định, thuận tiện và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh; thống nhất đầu mối giải quyết các thủ tục và yêu cầu đầu tư của nước ngoài. Bảo đảm những điều kiện thiết yếu về cơ sở hạ tầng, phương tiện làm việc vsinh hoạt cho người nước ngoài, trước hết là ở các khu chế xuất và những địa bàn đầu mối trong quan hệ kinh tế đối ngoại. Tổ chức tốt thông tin kinh tế và chủ động chuẩn bị các dự án gọi vốn đầu tư nước ngoài. Đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh tế đối ngoại theo cơ chế mới, với các đối tượng mới.

Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nước ta trong các tổ chức quốc tế; gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện.

2.2 Đại hội VII
2.2.1 Chủ trương
Đại hội VII (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm, đồng thời cũng nêu ra tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế là: Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Cụ thể hoá đường lối Đại hội VII, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 3 (khoá VII) đã ra chuyên đề Chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá mà Đại hội VII nêu ra, đánh dấu bước khởi đầu của tiến trình hội nhập của Việt Nam.
Chủ trương của Đại hội VII: “Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi của tất cả các nước, không phân biệt chế đô chính trị, xã hội, trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.”
2.2.2 Phương hướng, chính sách
Chính sách đối ngoại đối với các đối tác cụ thể:
 Với Lào và Cam pu chia, thực hiện đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tinh thần bình đẳng.
 Với Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác Việt –Trung
 Với các nước trong khu vực Đông Nam Á: Mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị
 Với Hoa Kỳ: Thúc đẩy nhanh quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
Xuất khẩu là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tế trong 5 năm này, đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đối ngoại, xuất khẩu phải trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các ngành, các cấp; trong thời gian tới, nhất thiết phải đạt được sự chuyển biến xứng đáng với tầm quan trọng và khả năng thực tế của nó. Nhiệm vụ đặt ra là tăng nhanh khối lượng xuất khẩu, đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, khắc phục cung cách làm ăn ít hiệu quả, tình trạng phân tán, lộn xộn, gây thiệt hại cả ở thị trường trong nước lẫn ngoài nước.
Chúng ta hoan nghênh những tổ chức kinh tế của nước ngoài quan hệ trực tiếp với các tổ chức kinh tế Việt Nam để mở rộng quy mô hợp tác, thoả mãn lợi ích của cả hai bên, theo chính sách và luật pháp của Nhà nước ta.
Đi đôi với đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, chúng ta hết sức coi trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối, cung ứng tàu biển, dịch vụ hàng không…
Một hướng khác là tổ chức trên quy mô lớn việc làm gia công hàng xuất khẩu, mở rộng việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở các nước bằng nhiều hình thức thích hợp,. Để làm việc này, bảo đảm hiệu quả không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội, cần cải tổ căn bản các hoạt động hiện hành, từ việc tuyển chọn ở trong nước, tổ chức quản lý ở nước ngoài cho đến việc sử dụng lao động sau khi họ ở nước ngoài về. Điều có ý nghĩa quyết định là tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là cán bộ quản lý lao động ở nước ngoài. Xoá bỏ tiêu cực trong lĩnh vực này, trước hết phải xoá bỏ tiêu cực trong đội ngũ cán bộ quản lý.
Trong 5 năm này, việc nhập khẩu phải theo hướng tạo điều kiện thực hiện đầy đủ ba chương trình kinh tế lớn, khai thác tốt hơn tiềm năng lao động, đất đai và công suất thiết bị hiện có. Trước yêu cầu rất lớn về nhập khẩu, phải đẩy mạnh xuất khẩu sang cả hai khu vực xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, trước hết là bảo đảm các cam kết quốc tế.
Trong việc sử dụng ngoại tệ do xuất khẩu mang lại, ưu tiên dành phần cần thiết để đầu tư trở lại cho sản xuất để bù đắp được chi phí sản xuất và có phần tái sản xuất mở rộng nguồn hàng xuất khẩu, và để nhập những vật tư thiết yếu.
Nghiên cứu ban hành thuế xuất, nhập khẩu nhằm thể hiện chính sách đối với các mặt hàng, thiết lập trật tự và kỷ cương trong lĩnh vực ngoại thương.
Các quan hệ kinh tế đối ngoại phải thúc đẩy sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa nước ta với cộng đồng xã hội chủ nghĩa, trước hết với Liên Xô, thể hiện ngày càng rõ sự tham gia của nước ta vào quá trình phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa, vừa mở rộng quy mô trao đổi hàng hoá, vừa đẩy mạnh phân công, hợp tác sản xuất. Xây dựng chương trình hợp tác dài hạn với các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế, để chủ động tranh thủ nhiều hơn nữa sự hợp tác và giúp đỡ của các nước anh em và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại.
Trong toàn bộ quan hệ kinh tế với nước ngoài, chúng ta luôn luôn nắm vững phương châm cơ bản là không ngừng mở rộng sự hợp tác toàn diện với Liên Xô trên tất cả các lĩnh vực và bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng phải bảo đảm thực hiện đúng các cam kết về giao hàng xuất khẩu. Từng bước hình thành và củng cố sự gắn bó lâu dài không chỉ ở cấp trung ương mà cả giữa các ngành, các đơn vị sản xuất và các địa phương của hai nước.
Chúng ta đặc biệt chú trọng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá giữa nước ta và hai nước láng giềng anh em Lào, Campuchia, nhằm khai thác khả năng của mỗi nước bổ sung cho nhau, làm cho mỗi nước và ba nước ngày càng phát triển và vững mạnh. Việc hợp tác kinh tế giữa ba nước phải theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, có ưu tiên ưu đãi cho nhau, và phải có những chính sách, phương thức thích hợp, bảo đảm hiệu quả thiết thực. Trong 5 năm này, thực hiện việc phối hợp kế hoạch giữa ba nước, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, phát triển giao thông vận tải; đồng thời tiếp tục giúp bạn về công tác điều tra cơ bản, đào tạo cán bộ, trao đổi chuyên gia…
Ngoài hoạt động xuất, nhập khẩu, với những chính sách và thể chế mới, chúng ta sẽ mở thêm quan hệ hợp tác với nhiều nước đang phát triển, với một số nước hoặc tổ chức tư nhân trong thế giới tư bản chủ nghĩa.
Để thực hiện thắng lợi các chủ trương của Đảng về quan hệ kinh tế đối ngoại, chúng ta ý thức sâu sắc rằng làm ăn tốt, khai thác mọi khả năng ở trong nước là tiền đề, điều kiện quyết định để mở mang quan hệ kinh tế với nước ngoài. Phải bằng mọi cách ra sức cải tiến sản xuất kinh doanh, phát huy tính năng động, nhanh nhạy để thích ứng kịp thời với những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường bên ngoài về số lượng và chất lượng hàng hoá, về thời gian và giá cả trao đổi. Cần nhấn mạnh rằng, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế là trách nhiệm và danh dự của Nhà nước ta mà tất cả các ngành, các cấp và người làm hàng xuất khẩu đều có nghĩa vụ bảo đảm. Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới giữ vững được sự tín nhiệm quốc tế và có điều kiện mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế với nước ngoài.

2.3. Đại hội VIII
2.3.1. Nhiệm vụ:
Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau.

2.3.2 Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại
 Mục tiêu:
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hằng năm khoảng 28% (chưa kể phần xuất khẩu tại chỗ). Tăng nhanh tỷ trọng hàng đã qua chế biến trong kim ngạch xuất khẩu, giảm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế.
Hướng nhập khẩu là tập trung vào nguyên liệu, vật liệu, các loại thiết bị công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từng bước thay thế nhập khẩu những mặt hàng có thể sản xuất có hiệu quả ở trong nước. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân hằng năm 24%.
Trong 5 năm thu hút và sử dụng có hiệu quả khoảng 7 tỷ USD từ nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) và 13 – 15 tỷ USD (tính theo mặt bằng giá 1995) từ nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI).
 Nhiệm vụ và giải pháp:
Mở rộng thị trường xuất khẩu, đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu. Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh, giảm mạnh việc xuất khẩu hàng thô. Tạo thêm mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu có khối lượng và giá trị lớn. Tăng khối lượng các mặt hàng đặc sản có giá trị. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản xuất khẩu tăng bình quân hằng năm 33%, nhóm hàng công nghiệp nhẹ 38%, nhóm hàng nông, lâm, thủy sản 16%.
Cơ cấu nhập khẩu: dự kiến máy móc thiết bị và phụ tùng chiếm khoảng 39% và tăng bình quân hằng năm 25%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm khoảng 52% và tăng bình quân 25%; hàng tiêu dùng chiếm khoảng 9% và tăng 14%.
Củng cố vị trí ở các thị trường quen thuộc, khôi phục quan hệ với thị trường truyền thống, tìm thị trường và bạn hàng mới, giảm sự tập trung quá mức vào một vài thị trường. Tạo một số thị trường và bạn hàng lâu dài về những mặt hàng xuất, nhập khẩu chủ yếu, giảm xuất, nhập qua thị trường trung gian. Thực hiện nhất quán các chính sách khuyến khích xuất khẩu, bao gồm cả việc bảo hiểm về giá cho hàng xuất khẩu, điều tiết tỷ giá hối đoái hợp lý, có lợi cho xuất khẩu.
Tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia Khối mậu dịch tự do (AFTA), cần xúc tiến việc tham gia Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), từng bước tham gia các hoạt động của Hệ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại với các nước đang phát triển (GSTP), áp dụng các chuẩn mực thương mại quốc tế và lựa chọn tham gia một số hiệp hội xuất khẩu quốc tế về từng mặt hàng xuất khẩu.
Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) đa phương và song phương, tập trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và quản lý, đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu tư cho các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng. Ưu tiên dành viện trợ không hoàn lại cho những vùng chậm phát triển. Các dự án sử dụng vốn vay phải có phương án trả nợ vững chắc, xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không được gây thêm gánh nặng nợ nần không trả được. Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và kiểm tra, quản lý chặt chẽ, chống lãng phí, tiêu cực.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) hướng vào những lĩnh vực, những sản phẩm và dịch vụ có công nghệ tiên tiến, có tỷ lệ xuất khẩu cao. Đối với những ngành không đòi hỏi nhiều vốn và công nghệ cao, có thể sinh lợi nhanh thì phải dùng nhiều hình thức để huy động vốn trong nước đầu tư toàn bộ hoặc chiếm tỷ lệ góp vốn cao nếu cần liên doanh. Về địa bàn đầu tư, cần có chính sách và biện pháp hữu hiệu để thu hút vào những nơi có tiềm năng nhưng trước mắt còn khó khăn. Hình thức đầu tư cần tiếp tục đa dạng hoá, chú ý thêm những hình thức mới, như đầu tư tài chính (bên ngoài góp vốn, mua cổ phần, nhưng không tham gia quản lý như xí nghiệp liên doanh). Về đối tác đầu tư, cần tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty đa quốc gia để tranh thủ được công nghệ nguồn, tiếp cận cách quản lý hiện đại và thâm nhập nhanh vào thị trường quốc tế, mở rộng được thị trường mới.
Đi đôi với những cố gắng thu hút thêm nguồn vốn bên ngoài, cần chú trọng nhiều hơn việc đưa vào thực hiện những dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã được cấp giấy phép, khắc phục các trở lực để đưa nhanh vào sử dụng nguồn vốn ODA đã được các nhà tài trợ cam kết.
2.3.3 Tiếp tục đổi mới cơ chế kinh tế đối ngoại, đẩy nhanh quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới
Trên cơ sở xác định những mặt hàng luật pháp cấm kinh doanh, một số mặt hàng chỉ Nhà nước được kinh doanh và một số mặt hàng phải quy định hạn ngạch, cho phép các đơn vị, chủ yếu là các đơn vị sản xuất có đăng ký kinh doanh được tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu với sự quản lý và hướng dẫn của Nhà nước. Cải tiến phương thức và cơ chế phân bổ hạn ngạch xuất, nhập khẩu.
Xây dựng đồng bộ chính sách khuyến khích xuất khẩu, bao gồm sự giúp đỡ về điều kiện sản xuất kinh doanh, chuyển giao công nghệ, tiếp thị và ưu đãi về thuế; hoàn thiện quy chế hoạt động của quỹ hỗ trợ xuất khẩu. Tách thuế nhập khẩu, không nhập làm một với thuế doanh thu (hoặc TVA) và thuế tiêu thụ đặc biệt; thu hẹp biểu thuế suất và giảm dần mức thuế nhập khẩu. Áp dụng danh mục và sự phân loại hàng hoá, quy chế hải quan phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định chung của các nước ASEAN, chuẩn bị cho tiến trình gia nhập khối mậu dịch tự do AFTA. Thực hiện bảo hộ sản xuất có chọn lọc và có thời hạn bằng các biện pháp thích hợp, hỗ trợ các cơ sở sản xuất nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá và ngăn chặn buôn lậu.
Thống nhất từng bước chính sách đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Thử nghiệm việc cho phép công ty và người nước ngoài mua cổ phiếu của các công ty cổ phần trong nước kể cả các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, trong hạn mức quy định theo ngành nghề kinh doanh.
Xây dựng quy chế và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính các cấp trong việc kiểm tra thực hiện các dự án đã được cấp giấy phép, giải quyết các trở ngại đối với việc thực hiện dự án, kiểm soát các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động. Bổ sung quy chế thành lập và hoạt động của các văn phòng đại diện công ty nước ngoài tại Việt Nam, tạo thuận lợi cho công ty nước ngoài xúc tiến đầu tư, kinh doanh, đồng thời bảo đảm sự quản lý của Nhà nước, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hoạt động trái pháp luật Việt Nam.

2.4. Đại hội IX:
2.4.1: Mục tiêu:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh.

2.4.2 Định hướng phát triển: Mở rộng quan hệ đối ngoại và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Chính phủ cùng các bộ, ngành và các doanh nghiệp khẩn trương xây dựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế với lộ trình hợp lý và chương trình hành động cụ thể, phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lýkinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế.
Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng. Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xây dựng Đông Nam á thành một khu vực hoà bình, không có vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển.

2.5 Đại hội X
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006), Đảng đã đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, không để rơi vào thế bị động; phân tích lựa chọn phương thức hội nhập đúng, dự báo được những tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế.
Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là khẩn trương chuẩn bị điều chỉnh, đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn; từ trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng lộ trình, kế hoạch, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; tích cực, nhưng phải thận trọng, vững chắc.
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế phải là ý chí, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, toàn dân, của mọi doanh nghiệp thộc các thành phần kinh tế và toàn xã hội.
Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế được xác lập trong mười năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1996), đến Đại hội X (2006) được bổ sung, phát triển theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ,hoà bình, hợp tác và phát triển.
2.5.1 Mục tiêu tổng quát:
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu: Tích cực, chủ động đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại gắn với nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế.
2.5.2 Định hướng:
-Tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại:
+ Thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới. Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác. Thực hiện các cam kết của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và tích cực tham gia quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN. Chuẩn bị tốt các điều kiện để bảo đảm thực hiện các cam kết khi nước ta gia nhập WTO.
+ Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi hơn nữa để khai thác lợi thế của đất nước và khắc phục những vướng mắc ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn quốc tế, như vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp dưới nhiều hình thức, tín dụng thương mại và các nguồn vốn quốc tế khác.

+ Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn FDI; tranh thủ nguồn vốn ODA đi đôi với việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng và có kế hoạch đảm bảo trả nợ. Từng bước mở rộng đầu tư gián tiếp của nước ngoài và có chính sách hiệu quả hơn để thu hút kiều hối vào phát triển kinh tế. Tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế khuyến khích các hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

+ Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và quản lý, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới. Đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần nhập siêu; phấn đấu tăng nhanh tỉ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh, tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hết sức hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến. Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thị trường ổn định cho các mặt hàng cạnh tranh tranh; tăng thêm thị phần ở các thị trường lớn và khai mở các thị trường còn nhiều tiềm năng. Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5 năm trước.
+ Phát huy tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Từng doanh nghiệp phải khẩn trương đổi mới từ tư duy đến phong cách quản lý, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giảm chi phí để tăng sức cạnh tranh. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài.

2.6 Đại hội XI
2.6.1 Chù trương
Về hội nhập quốc tế, Đại hội XI chuyển từ chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác” được thông qua tại Đại hội X thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Với chủ trương này, hội nhập quốc tế không còn bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội….
Hội nhập kinh tế quốc tế trên tất cả các lĩnh vực mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội, nhất là khả năng tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn lực bên ngoài. Cùng với hội nhập kinh tế, hội nhập trong các lĩnh vực khác sẽ tạo cơ hội lớn hơn trong tiếp cận tới tri thức tiên tiến của nhân loại, gia tăng mức độ đan xen lợi ích, từng bước làm cho đất nước trở thành bộ phận hữu cơ của khu vực và thế giới, chiếm vị trí ngày càng cao trong nền kinh tế, chính trị và văn hóa toàn cầu. Hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực cũng tạo cho chúng ta khả năng tận dụng được sự tác động qua lại, bổ sung lẫn nhau giữa hội nhập trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên, từ hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực khác chuyển sang hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực đặt ra cho chúng ta một số thách thức mới. Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về an ninh, chính trị, xã hội từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta; các loại tội phạm xuyên biên giới và các thách thức an ninh phi truyền thống khác có thể phương hại đến an ninh quốc gia, từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị – xã hội. Phạm vi và tốc độ lây lan của các cú sốc từ bên ngoài cũng gia tăng. Đồng thời, yêu cầu bổ sung và hoàn thiện thể chế; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao v.v.. sẽ ngày càng lớn.
Theo đó, để giảm thiểu các tác động tiêu cực và khai thác tối đa các cơ hội từ hội nhập quốc tế, nội hàm và lộ trình của hội nhập trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội cần phải được xác định phù hợp với thế, lực của đất nước và bối cảnh tình hình đất nước sao cho hội nhập quốc tế phục vụ hiệu quả nhất mục tiêu phát triển, bảo vệ Tổ quốc XHCN và vị thế quốc gia.
2.6.2 Định hướng phát triển
Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
– Tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại
Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế và quy tắc ứng xử của khu vực. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh.. Nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển nhanh, bền vững. Phát huy vai trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào phát triển đất nước.
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế; thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, công nghệ nguồn; mở rộng thị trường xuất khẩu.
Trên cơ sở những quan điểm cơ bản và định hướng lớn của Cương lĩnh, xuất phát từ yêu cầu và dự báo tình hình thực tế của đất nước trong thời gian tới, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 được xác định là Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện được tư tưởng chỉ đạo đó, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã đề ra 5 quan điểm phát triển, trong đó: (5) Kiên trì xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

PHẦN 3: NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

3.1 Những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3.1.1. Mở rộng và tham gia vào các quan hệ kinh tế song phương và đa phương
* Tiến trình hội nhập, tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế (toàn cầu và khu vực):
– Giai đoạn trước đổi mới (trước năm 1986): Việt Nam tham gia và là thành viên chính thức của Hội đồng tương trợ kinh tế (CMEA).
– Giai đoạn từ 1986 đến nay:
+ Năm 1992, Việt Nam đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế là IMF, WB, ADB.
+ Tháng 11-1993, Việt Nam nối lại quan hệ với các nhà tài trợ quốc tế (Hội nghị các nhà tài trợ quốc tế tổ chức tại Pari tháng 11-1993).
+ Tháng 7-1995, Việt Nam đã chính thức là thành viên của ASEAN, ký kết và thực hiện các hiệp định trong khuôn khổ của ASEAN. Trong đó, có các hiệp định quan trọng sau:
• Hiệp định khung về khu vực đầu tư của ASEAN (AIA) ký ngày 7-10-1998
• Hiệp định về chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) được ký kết tháng 4-1996
• Hiệp định thoả thuận ưu đãi thương mại (PTA) do các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN ký tại Manila ngày 29-2-1997.
• Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp trong ASEAN (DSM) đã được các nước thành viên ASEAN ký ngày 20-11-1996.
• Hiệp ước Bali II về việc hình thành cộng đồng ASEAN ký ngày 7-10-2003
+Tháng 3-1996, Việt Nam đã tham gia với tư cách thành viên sáng lập ASEM (Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan),
+ Tháng 8-1998, Việt Nam đã được kết nạp là thành viên Diễn đần hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
+ Ngày 4-1-1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tức là chỉ ba ngày sau khi WTO chính thức ra đời (ngày 1-1-1995). Ngày 7/11/2006, tại Gơnevơ (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị định thư về việc Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi Việt Nam được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.
*Hội nhập, ký kết các hiệp định, các điều ước quốc tế song phương và đa phương
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài cũng tăng lên.

Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới. Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996.. Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam cũng ký kết trên 20 công ước quốc tế .Từ năm 1990 đến 2010, Việt Nam đã ký kết trên 1000 điều ước quốc tế.
Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này.
3.1.2. Kết quả về thu hút FDI và ODA
*Thu hút FDI
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết năm 2011, Việt Nam có 13.667 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 198 tỷ USD, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 54%. Singapore là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký 24 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan
Năm 2011, tổng vốn đăng ký mới và tăng thêm tại Việt Nam đạt 14,7 tỷ USD, bằng 74% so với năm 2010. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ USD, bằng 65% năm 2010. Việc thu hút FDI của Việt Nam trong năm qua được đánh giá cao bởi số vốn giải ngân và có sự dịch chuyển lĩnh vực đầu tư theo hướng tích cực.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn là địa chỉ hấp dẫn đầu tư đối với các nhà đầu tư thế giới. Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2010 – 2012 của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy, Việt Nam đã thăng hạng 3 bậc, đứng thứ nhất trong ASEAN về mức độ hấp dẫn FDI và là một trong 10 nền kinh tế hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư Nhật Bản và các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á.

Diễn biến thu hút vốn FDI 8 tháng năm 2011 và 2010 – Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài.
*Thu hút ODA
Các chính sách thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả. Tính đến cuối năm 2010, các nhà tài trợ đã cam kết cung cấp ODA cho Việt Nam trên 64 tỷ USD. Những năm gần đây, lượng vốn ODA cam kết năm sau đều cao hơn năm trước, lên tới khoảng 8 tỷ USD mỗi năm, thể hiện sự tin tưởng của các nhà tài trợ vào khả năng phát triển (và trả nợ) của Việt Nam. Số liệu Bộ Kế hoạch – Đầu tư (KH-ĐT) cho thấy trong 5 năm 2006-2010, tổng số vốn ODA cam kết cho Việt Nam đạt 31,7 tỷ USD, tăng 21,5% so với giai đoạn 5 năm trước đó. Các chương trình, dự án tài trợ được ký kết trong thời kỳ 2006-2010 cũng đạt 20,1 tỷ USD, tăng 17,9% so với 5 năm trước. Vốn giải ngân được trong thời kỳ này đạt 13,8 tỷ USD, tăng 17% so với giai đoạn trước đó.

Vốn ODA cấp cho Việt Nam từ năm 2005 đến 2011(Đơn vị: tỷ USD)

Năm 2011, trong bối cảnh Việt Nam phải cắt giảm đầu tư công để kiềm chế lạm phát, nguồn vốn ODA với lãi suất ưu đãi và thời hạn vay kéo dài càng được coi là nguồn lực quan trọng để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Công tác thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam trong 17 năm qua đã đạt được những thành quả to lớn, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên là sự chỉ đạo và điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với công tác quản l‎ý và sử dụng nguồn vốn ODA thông qua việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện khung thể chế về quản lý và sử dụng nguồn vốn này. Đây cũng chính là điểm nổi bật nhất trong việc quản lý ODA tại Việt Nam trong những năm qua.
3.1.3. Phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
Hội nhập kinh tế quốc tế đã từng bước đưa doanh nghệp và nền kinh tế nước ta vào môi trường cạnh tranh quốc tế, tạo tư duy kinh tế mới, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh của doanh ngiệp và sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam.
Thực tế cho thấy, các doanh ngiệp Việt Nam đã từng bước vươn lên nâng dần sức cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội nhập. Trước năm 1990 hầu như nước ta không có mặt hang nào được coi là có sức cạnh tranh, đến nay đã có hàng nghìn mặt hàng được đánh giá là có sức cạnh tranh quốc tế. Cơ cấu kinh tế đã chuyển sang các ngành dịch vụ. Mặt khác, một số doanh nghiệp đã mở rộng phạm vi không gian lãnh thổ hoạt động đầu tư kinh doanh vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hoạt dộng xuyên quốc gia..
Đánh giá một cách tổng thể, sau 5 năm gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện.. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân 5 năm 2007-2011 là 19,25%/năm, cao hơn mức 18,1%/năm của thời kỳ
5 năm 2001-2005 trước khi nước ta gia nhập WTO. Kim ngạch xuất khẩu bình quân theo đầu người năm 2010 đạt 914,4 USD/người so với 559,2 USD/người của năm 2006, tăng gấp gần 2 lần.
3.1.4. Hợp tác khoa học, chuyển giao công nghệ
– Hợp tác khoa học và công nghệ của Việt Nam trong khối ASEAN:
Ngay sau khi nước ta gia nhập ASEAN năm 1995, Bộ khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác của khu vực về lĩnh vực này. Hợp tác ASEAN về khoa học công nghê được tiến hành rất phong phú, toàn diện, thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như:
+ Hội nghị bộ trưởng khoa học và công nghệ ASEAN
+ Uỷ ban Khoa học và Công nghệ ASEAN (COST
+ Các tiểu ban khoa học và công nghệ ASEAN: gồm 9 tiểu ban tương ứng với các lĩnh vực hợp tác chính của ASEAN
Trong 15 năm hợp tác về khoa học và công nghệ với ASEAN, nước ta đã phá được tình trạng bị bao vây, cô lập, từng bước tham gia vào sân chơi chung về lĩnh vực này, đồng thời tranh thủ cơ hội cập nhật thông tin, kiến thức khoa học và công nghệ để nâng cao trình độ cán bộ trong nước, cũng như trao đổi, học tập kinh nghiệm của các nước phát triển khoa học công nghệ…
– Hợp tác song phương về khoa học và công nghệ của Việt Nam:
+ Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ: hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam– Hoa Kỳ được ký kết năm 2000.
+ Hợp tác Việt Nam và EU.
3.1.5. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Qua hơn 20 đổi mới, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, lĩnh vực đào tạo phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm đã đạt được một số thành tựu chủ yếu sau:
– Tốc độ tăng nguồn cung lao động đã được kiềm chế. Tốc độ tăng nguồn cung lao động giai đoạn 1989- 1999 là: 2,71%; giai đoạn 1999 – 2002 là 2,66%; đến năm 2004 còn 2,47%. Về số tuyệt đối mỗi năm tăng khoảng 1,5 triệu người.
– Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn lao động đã được nâng cao, người không có trình độ chuyên môn kỹ thuật giảm xuống. Số người có chuyên môn kỹ thuật chiếm 27% tổng số lao động năm 2004.
– Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từng bước được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 1996-2002 là 5,58 – 5,85% và năm 2004 là 5,2%; tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn giai đoạn 1996-2002 bình quân là 51,17%, đến năm 2004 là 75%.
– Thu nhập bình quân tăng đáng kể. Từ mức 413 USD/người/năm lên 1300USD/người/năm.
– Cơ cấu việc làm trong các nhóm ngành đã có chuyển dịch tích cực. Lao động nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 68,96% năm 1996 xuống còn 60,55% và 60,67% các năm 2001, 2002 và năm 2004 là 56%. Lao động công nghiệp và xây dựng tăng từ 10,88% năm 1996 lên 15,13% năm 2002 và năm 2004 là 20%. Lao động dịch vụ tăng từ 20,16% năm 1996 lên 24,20% năm 2002 và năm 2004 là 27,15%.
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao. Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%.
Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác.

3.2. Những hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
3.2.1. Công tác lập các quy hoạch, kê hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu
Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một chiến lược tổng thể về hội nhập dựa trên một tầm nhìn dài hạn gắn với chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm phát huy nội lực kết hợp với ngoại lực đề đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Đồng thời, cũng chưa đưa ra được một lộ trình tổng thể các cam kết mở cửa trong tất cả các lĩnh vực, nhất là thuế quan, phi thuế quan, đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ ở các cấp độ khác nhau như đơn phương, song phương, khu vực và toàn cầu để có cơ sở đàm phán, giúp các ngành, các cấp, các doanh nghiệp có định hướng đúng trong xây dựng chương trình hành động của mình, có đủ thời gian chuẩn bị chu đáo khi hàng rào bảo hộ dần bị xoá bỏ và có biện pháp, kế hoạch chủ động vươn ra thâm nhập thị trường quốc tế.
3.2.2. Tổ chức chỉ đạo quá trình hội nhập trong thế gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế
Hiệu quả của các hoạt động, nhất là chất lượng công tác tham mưu cho lãnh đạo Đảng và Chính phủ cũng còn những hạn chế.
Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong quá trình tiến hành hội nhập chưa thật sự chặt chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ. Chính phủ tích cực thúc đẩy hội nhập, nhưng doanh nghiệp còn thờ ơ. Thông tin và trao đổi giữa các Bộ, ngành Trung ương và giữa Trung ương với địa phương cũng như giữa các cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp về vấn đề hội nhập còn chưa đầy đủ và thường xuyên. Thực tế những năm qua càng khẳng định cần có cơ chế phối hợp hành động giữa các ngành kinh tế với các ngành ngoại giao, an ninh, quốc phòng và sự hiệp đồng tác chiến của các cơ quan chính trị tư tưởng, văn hoá, tuyên truyền và giáo dục trong quá trình hội nhập .
3.2.3. Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập
Hệ thống luật pháp, chính sách quản lý nền kinh tế thị trường không đồng bộ, còn hay thay đối, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế do đó chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập.
Nhiều chuyên gia cho rằng, một trong những điểm hạn chế cơ bản nhất trong hệ thống luật pháp kinh tế hiện hành của Việt Nam là việc giải quyết các vấn đề theo cách hiểu, cách tư duy cũ. Hậu quả là làm cho các bên đối tác khó tiếp cận và nắm bắt được nội dung các quy định pháp luật của nước ta. Điều này hoàn toàn không có lợi cho quá trình hội nhập cũng như cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác, việc rà soát và xây dựng mới hàng trăm văn bản pháp luật để đáp ứng yêu cầu hội nhập đòi hỏi phải đẩy nhanh tốc độ xử lý thông qua luật của Quốc hội. Song thời gian qua, hệ thống lập pháp ở nước ta chưa đáp ứng kịp thời như ban hành, sửa đổi, xây dựng mới các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập.
3.2.4. Tuyên truyền phổ biên về hội nhập kinh tế quốc tế và giáo dục đội ngũ lao động thích ứng với điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn
– Nội dung tuyên truyền còn sơ lược, chưa bao quát một cách toàn thể các vấn đề, các khía cạnh, cũng như đối với từng đối tượng trong xã hội. Do đó, chưa tập hợp được đông đảo dư luận xã hội ủng hộ các chính sách, biện pháp mở cửa, hội nhập và tự do hoá, chống việc đóng cửa, hạn chế bảo hộ và các vấn đề khác. Trong khi đó, nhu cầu tăng cường tuyên truyền và phổ biến thông tin về các vấn đề như các luật lệ quy định của thể chế kinh tế – thương mại khu vực và thế giới về các thị trường thành viên và đối tác của Việt Nam, luật lệ và chính sách của Việt Nam ngày càng lớn (riêng các văn kiện của WTO đá trên 30.000 trang với trên 40 hiệp định và nhiều văn bản khác; riêng ASEAN cũng có trên 20 hiệp định và văn bản pháp lý).
– Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến giáo dục và đào tạo về các vấn đề có liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế nhằm chuẩn bị cho xã hội đội ngũ những người nắm được kiến thức và đủ năng lực hoạt động trong lĩnh vực này.
– So với đòi hỏi ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đội ngũ cán bộ nước ta vẫn cần phải được nâng cao nhiều hơn nữa về trình độ hiểu biết nói chung và năng lực chuyên môn nói riêng, đặc biệt là ngoại ngữ (trước hết là tiếng Anh) và khả năng đóng góp vào việc hoạch định chính sách kinh tế, xây dựng luật pháp, tham gia đàm phán, xây dựng các cam kết quốc tế cũng như triển khai thực hiện các cam kết đó.
3.2.5. Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế thiếu đồng bộ, nhất quán và chưa phù hợp với điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tế cho thấy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua diễn ra chậm, thiếu đồng bộ và không nhất quán. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm qua chưa tập trung khai thác và phát triển mạnh nhiều ngành, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế và có thể mang lại hiệu quả cao nhất. Đầu tư của Nhà nước bị dàn trải và sa đà vào nhiều nhiều ngành, lĩnh vực không đưa lại hiệu quả kinh tế (mía đường, xi măng, thép, than…).
3.2.6. Quá trình đổi mới các hoạt động của đất nước chưa theo kịp yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
Đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đổi mới tạo tiền đề cho hội nhập, ngược lại hội nhập lại thúc đẩy đổi mới. Trong những năm qua, đồng thời với việc tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta tiếp tục thực hiện đổi mới kinh tế đất nước. Tuy nhiên, trên một số mặt lĩnh vực, quá trình đổi mới này chưa thực sự theo kịp yêu cầu của hội nhập.
3.2.7. Khó khăn và thách thức đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều
– Nhìn chung, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn thờ ơ chưa chuẩn bị cơ bản để sẵn sàng vào cuộc cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
– Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, chính sách vĩ mô chưa tạo được động lực khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.
– Trừ một số doanh nghiệp đã có thay đổi rõ rệt trong kinh doanh theo cơ chế thị trường, nhìn chung số còn lại vẫn chậm đổi mới công nghệ, phương pháp quản lý, hình thức mẫu mã và chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm cho thích hợp với yêu cầu chung của thị trường.

Kết luận
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là một vấn đề được cả thế giới quan tâm, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và kém phát triển. Hoà nhập vào với nền kinh tế thế giới không chỉ tạo điều kiện cho một quốc gia có thể tham gia vào những hoạt động chung của toàn cầu mà còn giúp quốc gia đó học hỏi những kinh nghiệm, rút ra được bài học quý báu để từ đó vạch ra những chính sách kinh tế, xã hội phù hợp với tình hình đất nước mình, đưa đất nước dần dần vượt qua những khó khăn, thử thách để ngày càng vững bước hơn trên con đường hội nhập, ngày càng giàu mạnh văn minh hơn. Đó là kết quả của quá trình hội nhập – một xu thế tất yếu của thời đại.
Hội nhập kinh tế quốc tế có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với đường lối đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nước. Các chủ trương, đường lối qua các kì đại hội thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế song phương và đa phương. Trong đó việc hoàn thiện hệ thống quản lý, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ Việt Nam, xây dựng và thực hiện các cam kết quốc tế phải được triển khai đồng bộ, khoa học, đồng thời phải thường xuyên xem xét tới những diễn biến, những đòi hỏi của các tổ chức quốc tế mà chúng ta đang và sẽ tham gia để chúng ta thực hiện thành công mục tiêu cao nhất của hội nhập là phát triển đất nước.