CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN – ĐẶC ĐIỂM – Thực trạng (n nước) – tác động VN

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
o Kinh tế thị trường hình thành từ quá trình sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là để bán trên thị trường. Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng, sản xuất như thế nào và cho ai đều thông việc mua bán, thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định.
o Cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội và về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định. Khi sản phẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản xuất hàng hoá, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân. Đối với mỗi hàng hoá, mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường.
o Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài. Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn. Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của nông dân, thợ thủ công dựa cơ sở tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân người sản xuất. Đây là một kiểu sản xuất nhỏ, dựa trên kĩ thuật thủ công và lạc hậu. Khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành sản xuất quy mô lớn. Quá trình chuyển biến này diễn ra trong một thời kì quá độ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản.
o Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì đó là nền kinh tế hàng hoá, khi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường.
o Như vậy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế mà trong đó cá nhân người tiêu dùng và nhà kinh doanh tác động qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định ba vấn đề trọng tâm của tổ chức kinh tế. Đó là: Sản xuất cái gì? Như thế nào? Và cho ai? Nói tới kinh tế thị trường phải nói đến ba vấn đề sau:
 Các nhân tố, quan hệ cơ bản cấu thành thị trường.
 Môi trường hoạt động.
 Các quy luật vận hành và động lực chi phối thị trường.
o Trong cơ chế thị trường động lực hoạt động của các thành viên là lợi nhuận, lợi nhuận có tác dụng lôi kéo các doanh nghiệp sản xuất mà xã hội cần. Cơ chế thị trường dùng lỗ, lãi để quyết định các vấn đề kinh tế cơ bản. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tự vận động tuân theo những quy luật vốn có của nó, như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, các quy luật vị trí, vai trò độc lập, song lại có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, và tạo ra những nguyên tắc vận động của thị trường.
o Một số khái niệm về kinh tế thị trường:
 Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. Khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường (người bán cần tiền, người mua cần bán và họ phải gặp nhau trên thị trường) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường.
 Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế – xã hội, trong đó các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
 Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao. Khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua – bán và hàng hoá.
II. CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn sang nền kinh tế thị trường
o Giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hóa đơn giản sang nền kinh tế thị trường diễn ra từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII. Đây cũng là thời kì quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Nhiệm vụ của giai đoạn này là tích lũy những tiền đề cần thiết cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường.
o Tổ chức kinh tế xã hội phong kiến và chủ nghĩa tư bản khác nhau. Thời kỳ phong kiến là thời kỳ thống trị của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Kiểu tổ chức kinh tế là phát canh thu tô. Nông dân thuê ruộng đất của địa chủ để sản xuất và hằng năm phải nộp tô cho địa chủ. Số tô này thường rất nặng nề, và chiếm hơn 50% sản phẩm sản xuất ra.
o Trong kiểu tổ chức kinh tế thị trường đòi hỏi có một tầng lớp những nhà kinh doanh hay những kinh tế tư nhân. Những người này phải có trong tay một lượng vốn nhất định để mua tư liệu sản xuất và mua sức lao động, xây dựng các nhà máy tiến hành sản xuất sản phẩm bán trên thị trường và thu lợi nhuận. Số lượng vố đó càng lớn thì hoạt động của nhà kinh doanh càng mạnh mẽ, chính vì vậy, trong thời kỳ tích lũy nguyên thủy, giai cấp tư sản cần có trong tay một lượng tiền lớn để tổ chức các xí nghiệp sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, lúc bấy giờ công nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp còn lạc hậu. Vì thế muốn có số tiền vốn lớn cần phải đẩy mạnh buôn bán, hoạt động thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương. Các lý thuyết chỉ đạo hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản đã được đưa ra nhằm rút ngắn thời kỳ tích lũy nguyên thủy để cho các doanh nghiệp của nền kinh tế thị trường ra đời.
o Cùng với việc tích lũy vốn, thị trường lao động cũng đã được hình thành. Cho đến thế kỷ XV phần lớn dân cư sống ở nông thôn. Muốn có sức lao động làm thuê cần thiết phải có sự phân hóa nông dân, tách sức lao động ra khỏi tư liệu sản xuất của họ để hình thành giai cấp vô sản. Vì vậy, trong thời kỳ suy đồi của chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản không chỉ phát triển trong lĩnh vực thương nghiệp mà còn mạnh dần sang cả lĩnh vực nông nghiệp. Do vây, đã diễn ra sự tước đoạt ruộng đất của nông dâ, vô sản hóa nông dân, hình thành thị trường sức lao động đông đảo, giúp cho sự phát triển của các doanh nghiệp tổ chức theo kiểu kinh tế thị trường. Lịch sử khi nhận rằng nước nào diễn ra cách mạng về ruộng đất sớm và triệt để thì ở đó kinh tế thị trường sẽ phát triển sớm và mạnh mẽ. Điều này được minh chứng rõ nét ở Anh, và Cộng hòa Liên bang Đức. Ngay từ thế kỷ XV, Anh đã đẩy mạnh chính sách coi trọng thương nghiệp, buôn bán, cướp bóc thuộc địa, đồng thời đã tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện chế độ kinh doanh ruộng đất kiểu tư bản chủ nghĩa. Còn Cộng hòa Liên bang Đức phát triển chậm là do chế độ phong kiến thống trị khá vững chắc và kéo dài tới nửa đàu thế kỷ XIX.
o Một vấn đề có tính then chốt trong giai đoạn chuyển nền kinh tế là vai trò tích cực của nhà nước trong quá trình chuyển đổi. Nhà nước đương thời đưa ra các chính sách kinh tế như chính sách quản lý tiền tệ, kiểm soát buôn bán, xuất nhập khẩu, thực hiện thuế quan bảo hộ để hỗ trợ tích cực cho sự phát triển kinh tế thị trường.
2. Giai đoạn phát triển kinh tế thị trường tự do
o Đây là giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường dân tộc theo nguyên tắc tự do kinh tế. Giai đoạn này ở các nước phương Tây kéo dài từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Nhiệm vụ của giai đoạn này là:
 Đẩy mạnh hoạt động của lĩnh vực sản xuất.
 Tăng cường tích tụ và tập trung sản xuất để tăng chất lượng và quy mô thị trường.
 Phát triển rộng rãi các hình thức thị trường.
o Tích lũy được lượng tiền tệ lớn, các nhà kinh doanh tập trung sức phát triển thị trường dân tộc. Trong giai đoạn này đầu tư phát triển các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng. Tiềm lực của một nền kinh tế quyết định trình độ phát triển của kinh tế thị trường, mà tiềm lực đó thể hiện ở sự phát tiển hệ thống các ngành kinh tế, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống khoa học và công nghệ. Thiếu các hệ thống đó nền kinh tế thiếu chỗ dựa cho sự phát triển.
o Các nhà kinh doanh đã biết kết hợp vốn tích lũy từ nước ngoài với điều kiện tài nguyên, lao động trong nước, từng bước phát triển các lĩnh vực sản xuất. Ví dụ, ở thể kỷ XVII, Hà Lan là cường quốc kinh tế, nhưng vào thế kỷ XVIII thì kinh tế Hà Lan suy sụp và phải nhường vị trí “nền kinh tế phát triển nhất” cho nước Anh. Vì Hà Lan không có một nền công nghiệp phát triển làm cơ sở cho nền kinh tế thị trường; còn ở Anh, các nhà doanh nghiệp đã biết kết hợp vốn với điều kiện tài nguyên, phát triển nông nghiệp, công nghiệp da, và cuối cùng là phát triển công nghiệp nặng.
o Một đặc trưng quan trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế thị trường theo tinh thần tự do. Nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế.
o Khi các nhà kinh doanh đã có trong tay một lượng tiền tích lũy lớn, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, họ lại chủ trương tự do kinh tế và nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thời kỳ này, nhà nước có những chức năng sau:
 Bảo vệ quyền tư hữu của nhà kinh doanh.
 Đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội.
 Xây dựng các công trình công cộng.
o Sự phát triển tự do góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển nhanh chóng. Nhưng nó cũng tích tụ những mâu thuẫn, tệ nạn vốn có của nền kinh tế thị trường mà bản thân nó không thể giải quyết được như tình trạng độc quyền, phân hóa bất bình đẳng, khủng hoảng và thất nghiệp…Tất cả đều đòi hỏi cần có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế thị trường.
3. Giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại
o Giai đoạn này diễn ra vào thời kỳ những năm 50 của thể kỷ XX đến nay. Trong giai đoạn này phạm vi thị trường được mở rộng ra. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm xuất hiện nhiều hàng hóa mới như hàng điện tử, bán dẫn. Đặc biệt lĩnh vực dịch vụ đã phát triển nhanh chóng các hàng hóa, thông tin, sửa chữa, du lịch, đã nâng cao chất lượng của tổ chức thị trường. Thị trường tiện tệ sử dụng các công nghệ hiện đại.
o Do chạy theo lợi nhuận cho nên các doanh nghiệp thường gây ô nhiễm môi trường, thường khai thác tài nguyên một cách bừa bãi dẫn tới làm mất cân bằng sinh thái mà doanh nghiệp không phải đền bù một khoản thiệt hại nào. Cơ chế thị trường dễ làm xuất hiện căn bệnh: khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát và suy thoái. Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo, dễ phát sinh những tiêu cực xã hội. Kinh tế thị trường là một bước phát triển sau của kinh tế tự nhiên và khi kinh tế hàng hoá phát triển tới trình độ cao thì đó chính là kinh tế thị trường. Trong cơ chế thị trường thì do những khuyết tật của nó dẫn đến phá vỡ cân đối của nền kinh tế, gây lãng phí nhiều nguồn lực: tư liệu sản xuất, lao động, tạo ra sự phân hóa xã hội. Vì vậy nhà nước phải có vai trò nhất định để khắc phục những nhược điểm trên.
o Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kì tự do cạnh tranh thì kinh tế thị trường phát triển theo tư tưởng lý thuyết bàn tay vô hình thì nhà nước không can thiệp kinh tế. Điều đó dẫn đến việc khủng hoảng kinh tế sau này (1929 – 1933). Vì vậy đã xuất hiện lý thuyết kinh tế của Keyes yêu cầu nhà nước phải can thiệp kinh tế và đến năm 1948 đã xuất hiện lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp trong đó có sự kết hợp của hai nhân tố: sự điều tiết của thị trường (Bàn tay vô hình) và sự can thiệp của chính phủ (Bàn tay hữu hình) và cả hai nhân tố này đều tác động vào nền kinh tế.
o Nhà nước có chức năng:
 Định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật.
 Thiết lập về một khuôn khổ về pháp luật, xây dựng hệ thống cơ sở nhất quán tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho kinh tế phát triển.
 Hạn chế và khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường.
 Trực tiếp đầu tư một số lĩnh vực của nền kinh tế: những ngành kinh tế công cộng, năng lượng, cầu nhiều vốn….
 Quản lý và bảo vệ tài sản công, kiểm kê, kiểm soát hoạt động kinh tế – xã hội
 Phân phối hợp lý các nguồn lực sản xuất.
o Như vậy, ba giai đoạn phát triển của kinh tế thị trường là ba giai đoạn phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật, đồng thời là ba giai đoạn mở rộng quy mô, chất lượng, phạm vi thị trường, tăng cường sức mạnh của bộ máy thị trường. Đó là ba giai đoạn phát triển tất yếu mà bất cứ nước nào muốn hướng theo con đường kinh tế thị trường cũng phải trải qua.
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Những yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường
Có thể chỉ ra những yếu tố cơ bản quy định kinh tế thị trường, cũng là những yếu tố chủ yếu của cấu trúc đó như sau:
o Thứ nhất, chủ thể của nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Về bản chất, nền kinh tế thị trường thị trường có cấu trúc đa sở hữu. Trong cấu trúc, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc. Nói đến kinh tế thị trường mà phủ nhận sở hữu tư nhân có nghĩa là bác bỏ kinh tế thị trường trên thực tế. Bên cạnh sở hữu tư nhân, còn có các dạng thức sở hữu quan trọng khác là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và dạng đồng sở hữu của các chủ thể khác, ví dụ sở hữu công ty cổ phần, doanh nghiệp tư bản nhà nước, v.v.
o Về nguyên tắc, các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong hoạt động kinh doanh (trong cạnh tranh). Nhưng mỗi hình thức sở hữu và mỗi chủ thể sở hữu lại có vai trò, vị thế và chức năng đặc thù trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường.
o Thứ hai, hệ thống đồng bộ các thị trường và thể chế tương ứng. Nền kinh tế thị trường là một hệ thống hữu cơ mang tính xã hội hoá cao. Do vậy, sự vận hành của nó luôn luôn là sự vận hành tổng thể của các yếu tố cấu thành.
o Mọi nền kinh tế thị trường đều có các yếu tố cấu thành cơ bản là các thị trường, bao gồm các thị trường yếu tố [các thị trường đầu vào như thị trường đất đai, thị trường sức lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán), thị trường máy móc thiết bị, thị trường khoa học – công nghệ] và thị trường hàng tiêu dùng. Để nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả, phải bảo đảm hai yêu cầu:
 Có sự hiện diện đầy đủ của tất cả các thị trường nói trên.
 Các thị trường phải vận hành đồng bộ.
o Để đáp ứng hai yêu cầu này, việc hình thành và phát triển các thị trường phải tuân theo một trật tự bước đi xác định. Việc không tuân thủ trật tự đó (ví dụ xây dựng thị trường vốn, thị trường chứng khoán nhưng hệ thống các quyền tài sản không xác định rõ, thị trường đất đai không được thừa nhận chính thức) thường dẫn đến sự rối loạn, vận hành kém hiệu quả của từng thị trường chức năng và của cả nền kinh tế.
o Bên cạnh đó, sự vận hành đồng bộ của các thể chế thị trường đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của thị trường (chủ thể sở hữu độc lập, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp, cơ chế phân bổ nguồn lực do các lực lượng thị trường quyết định là chính, thông qua cạnh tranh tự do, v.v.) trên cơ sở dược sự bảo đảm của luật pháp. Nếu không được bảo vệ bằng các đạo luật cơ sở như luật cạnh tranh, luật về các quyền sở hữu, luật chống độc quyền, luật chống bán phá giá thì nền kinh tế không thể hoạt động bình thường.
o Thứ ba, hệ thống giá cả do cung cầu thị trường quyết định là yếu tố cốt lõi quyết định sự vận hành của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường chỉ vận hành được một khi hệ thống giá cả được quyết định khách quan bởi thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là động lực chủ yếu thúc đẩy nỗ lực hoạt động và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Để phục vụ mục tiêu đó, giá cả phải được thiết định trên các cơ sở khách quan và được điều tiết bằng cơ chế tự điều tiết (cạnh tranh tự do).
o Thứ tư, cơ chế nguyên tắc vận hành cơ bản của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh tự do. Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường. Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc.
o Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường. Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn. Thực tế xác nhận rằng cho đến nay, sau khi nền kinh tế đã vượt qua trình độ kinh tế nông dân tự cấp – tự túc, cạnh tranh là cơ chế phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất.
o Thứ năm, vai trò của nhà nước. Thị trường có những khuyết tật và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, ví dụ như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường, v.v. Để khắc phục chúng và tránh khỏi thất bại thị trường, nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế. Nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế. Với các tư cách đó, nhà nước thực hiện ba chức năng:
 Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển;
 Phân phối lại thu nhập quốc dân
 Bảo vệ môi trường.
o Để thực hiện ba chức năng đó, nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ:
 Cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường;
 Kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khích kinh doanh;
 Cung cấp kết cấu hạ tầng (gồm hạ tầng “cứng” – giao thông vận tải, cung cấp điện nước, v.v. và hạ tầng “mềm” – dịch vụ thông tin, bưu chính – viễn thông; tài chính, v.v.) cũng như các dịch vụ và hàng hoá công cộng (chăm sóc sức khoẻ, giáo dục – đào tạo, bảo vệ môi trường, v.v.).
 Hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường bình đẳng.
o Năm yếu tố nói trên là 5 yếu tố cấu thành cơ bản khung thể chế chung của mọi nền kinh tế thị trường. Chúng hình thành một tổng thể, quy định lẫn nhau. Thiếu bất cứ yếu tố nào trong số đó đều không thể có nền kinh tế thị trường bình thường, vận hành hiệu quả. Tuy nhiên, trong mỗi nền kinh tế thị trường, tuỳ theo các điều kiện phát triển cụ thể, vai trò, vị trí và chức năng của từng yếu tố không hoàn toàn giống nhau. Điều này tạo nên đặc thù của các mô hình kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường ở những quốc gia cụ thể.
2. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường có các đặc điểm cơ bản sau:
o Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh: Nhà nước, các doanh nghiệp, cá nhân. Nghĩa là có quyền tự do kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm, tự chủ về vốn, về đầu ra.
o Giá cả cơ bản là do cung-cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo vì sẽ có hiệu suất phân bổ nguồn lực phát huy tác dụng. Thị trường hoàn hảo có đặc điểm:
 Có các chủ thể thị trường đông đảo và có sự cạnh tranh hoàn hảo của các chủ thể thị trường.
 Không chỉ yêu cầu phải có 1 thị trường hàng hóa phát triển cao mà còn yêu cầu phải có đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất trong đó bao gồm thị trường vốn, lao động, kinh tế,…đảm bảo cho cơ chế như: cung-cầu,cạnh tranh, giá cả,…phát huy cạnh tranh 1 cách hữu hiệu.
 Phải có thị trường thống nhất trên toàn quốc.
 Thị trường trong nước phải liên kết với thị trường quốc tế trong nền kinh tế toàn cầu.
o Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo qui luật vốn có của kinh tế thị trường: cung-cầu, cạnh tranh, giá trị,…Kinh tế có tính mở thể hiện:
o Phá vỡ sự hạn chế của các vùng
o Các qui luật là yếu tố trực tiếp tác động đến sự điều tiết của doanh nghiệp, các chủ thể kinh tế.
o Hàng hóa, vốn, sức lao động, công nghệ tự do lưu thông (khu vực, quốc gia, thế giới).
o Có hệ thồng phát huy kiện toàn và sự quản lí vĩ mô của nhà nước nhắm hạn chế những mặt trái của thị trường: thất nghiệp, ô nhiễm.
3. Ưu và nhược điểm của kinh tế thị trường
3.1. Những ưu điểm (đặc trưng) của kinh tế thị trường
o Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn đứng vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hoá để cho phép thoả mãn nhu cầu ở mức tối đa.
o Ưu điểm:
 Kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, luôn tìm cách để cải tiến lối làm việc và rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công hay thất bại để phát triển không ngừng.
 Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản lý kinh doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lý kém hiệu quả.
 Kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ trong kinh tế bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
3.2. Những khuyết tật của kinh tế thị trường
o Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, dư thừa và phong phú hàng hóa. Dịch vụ được mở rộng và coi như là hàng hoá. Thị trường năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ.
o Song ngoài những ưu điểm nêu trên, kinh tế thị trường còn tồn tại một số khuyết tật sau:
 Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội.
 Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hoá công cộng” (đường xá, các công trình văn hoá, y tế và giáo dục .v.v.).
 Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu ít, nghèo nhiều, bất công xã hội.
o Do tính tự phát vốn có, kinh tế thị trường có thể mang lại không chỉ có tiến bộ mà còn cả suy thoái, khủng hoảng và xung đột xã hội nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước.
o Sự can thiệp của Nhà nước sẽ đảm bảo hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hoá hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô. Bằng cách đó Nhà nước mới có thể kiềm chế tính tự phát của kinh tế thị trường, đồng thời kính thích đối với sản xuât thông qua trao đổi hàng hoá dưới hình thức thương mại.
B – THỰC TRẠNG
I. XU HƯỚNG CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
o Thể chế kinh tế thị trường phát triển toàn diện trên phạm vi toàn cầu. Hai thập kỷ đầu thê kỷ 21 là thời kỳ thể chế kinh tế thế giới biến đổi lớn, biểu hiện chủ yếu trên 3 mặt:
 Phần lớn các nước theo mô hình kinh tế kế hoạch đã đi theo con đường kinh tế thị trường. Trung Quốc đã cơ bản thiết lập được nề kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, song chưa hoàn thiện, một số khu vực và lĩnh vực còn tiếp tục nhiều cách làm trong thời kỳ kinh tế kế hoạch. Các nước Liên Xô, Đông Âu trước đây đang trong quá trình chuyển đổi quỹ đạo, song công việc này khó mà hoàn thành một sớm một chiều… Trong 20 năm tới, tình hình trên sẽ thay đổi lớn. thể chế kinh tế thị trường Trung Quốc trong thới gian dài còn mang dấu ấn của nề kinh tế đang phát triển, không thể vượt trên trình độ phát triển kinh thế mà hoàn toàn xóa bỏ những dấu ấn này, nhưng nó sẽ dần dần phát triển theo xu hướng hoàn thiện. Hai mươi năm đầu thế kỷ 21 là thời kỳ then chốt trong tiến trình trên. Trong thời gian ấy, Nga và các nước Đông Âu sẽ cơ bản hoàn thành bước quá độ sang nền kinh tế thị trường. Mở cửa với bên ngoài là một trong những mục đích quan trọng của cải cách.
 Những thay đổi trong thể chế kinh tế các nước phát triển khiến thể chế kinh tế thị trường thích ứng nhu cầu thời đại thông tin và thời đại kinh tế tri thức. Những thay đổi ấy thể hiện cả trên thể chế kinh tế vĩ mô và thể chế kinh tế vi mô. Mức độ ảo hóa kinh tế tăng lên tất sẽ dẫn tới những đổi mới về thể chế.
 Sau khi giành được độc lập về chính trị, phần lớn các nước đang phát triển đã đi theo hướng kinh tế thị trường, nhưng điều đó không có nghĩa là thể chế kinh tế thị trường đã được thiết lập ở những nước này. Trên thực tế, trong các nước này tồn tịa thể chế kinh tế hỗn hợp. Thể chế quản lí phi tư bản chủ nghĩa đã được giữ lại ở mức độ khác nhau, hay thay đổi hình dạng. Kết quả là các nước đang phát triển thực hiện một thứ thể chế kinh tế bị bóp méo nghiêm trọng. khi tình hình trong nước và khu vực có chiều ổn định, các nước đó chuyển sang chú trọng phát triển kinh tế, thì trở ngại đầu tiên là thể chế. Tình hình đó buộc họ phải tiến hành cải cách. Hai mươi năm đầu thế kỷ 21 là thời kỳ tiến hành cải cách thể chế.
o Thể chế kinh tế thị trường mở đang và sẽ là xu hướng nổ bật, có tính toàn cầu và có tác động to lớn tới sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Theo PGS, TSKH Võ Đại Lược đánh giá trong cuốn sách “Những xu hướng phát triển của thế giới và sự lựa chọn mô hình công nghiệp hóa của nước ta”, những tác động đó bao gồm: Thứ nhất là thị trường thế giới được mở rộng. Các thị trường quốc gia sẽ ngày càng được mở rộng, khai thông, hội nhập với khu vực và toàn cầu, do vậy thị trường khu vực và thế giới sẽ được mở rộng trên mọi lĩnh vực; thứ hai là tạo ra một động lực to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bởi điều kiện tieen quyết cho tăng trưởng cao chính là cơ chế thị trường mở cửa. Chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của NIEs và ASEAN chính là động lực cho tăng trưởng cao. Cải cách và mở cửa của Trung Quốc cũng có vai trò như vậy. Thực chất của các chính sách này là khai thông cho cơ chế thị trường mở, phát huy tác dụng động lực chính thúc đẩy tăng trưởng; thứ ba là cơ chế thị trường của mỗi quốc gai chịu sự tác động mạnh của cơ chế thị trường của các quốc gia hung mạnh, của khu vực và trên thế giới. Quốc gia nào mở của và hội nhập quốc tế cáng sâu rộng, thì tác động của cơ chế thị trường của các cường quốc, của khu vực và thế giới tới cơ chế của quốc gia đó càng mạnh và làm cho sức mạnh của cơ chế thị trường quốc gia đó cũng tăng lên. Do vậy, mọt chính sách ngăn chặn thị trường trong nước quan hệ với thị trường quốc tế trên thực tế đã trở thành chính sách làm suy giảm sức mạnh của cơ chế thị trường trong nước; thứ tư là khi thị trường thế giới được mở rộng, xu hướng tụ do hóa thương mại và đầu tư phát triển, cạnh tranh trong khu vực va trên thế giới cũng sẽ phát triển mạnh mẽ.
o Những tác động trên đây cho thấy trong tương lai, một nền kinh tế thị trường toàn cầu sẽ hình thành và phát triển. Nền kinh tế thị trường này sẽ dựa trên một nền công nghệ toàn cầu với các xa lộ thông tin, liên lạc vận tải toàn cầu, các thể chế kinh tế toàn cầu. Nó sẽ bao gồm các trung tâm kinh tế khu vực mở với các nền kinh tế thị trường quốc gia mở và hàng trăm ngàn công ty xuyên quôc gia hoạt động ở khắp mọi nơi.
o Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo xu hướng thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả.
II. THỰC TRẠNG CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1. Tây Âu
1.1. Trước Cách mạng công nghiệp Anh (Từ thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 18)
o Từ thế kỉ 11, kinh tế nông nghiệp ở Tây Âu phát triển hẳn lên. Nông nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thủ công nghiệp phát triển. Nhiều thợ thủ công khéo tay và các thương nhân đã tìm tới ngã ba đường, ngã ba sông để mở quán làm ăn. Những nơi thuận lợi, các cửa hàng, công xưởng ngày càng phát triển, dần dần hình thành nên các thành thị trung đại. Sự ra đời của các thành thị trung đại, là biểu hiện cụ thể của nền kinh tế hàng hoá, nó báo hiệu rằng nền kinh tế tự nhiên đang bị tấn công. Nền kinh tế hàng hoá ngày càng đòi hỏi một thị trường rộng lớn, nó tạo ra sự giao lưu thường xuyên giữa các địa phương.
o Các triều đình phong kiến, với các khoản chi tiêu xa xỉ, nợ thương nhân những khoản khổng lồ và ngân khố luôn thiếu hụt. Chế độ phong kiến phân tán được tạo ra bởi nền kinh tế tự nhiên sắp bị thay thế bởi một chế độ trung ương tập quyền do đòi hỏi của nền kinh tế hàng hoá. Năng suất lao động tăng tạo ra nhiều sản phẩm thừa. Điều này dẫn đến các cuộc thám hiểm nhằm tìm kiếm và phám phá các “miền đất hứa” nhằm mở rộng giao thương và sản xuất.
o Năm 1492, Christopher Columbus, thay vì tìm đường trên biển đến Ấn Độ, đã khám phá ra châu Mỹ. Sau đó, các tuyến hải trình giao thương được thiết lập, tạo nên một thị trường thế giới sơ khai.
o Sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp trong thành thị đã phá vỡ nền kinh tế tự nhiên của các lãnh địa, tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển. Thành thị đã xóa bỏ chế độ phong kiến phân quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, thống nhất quốc gia dân tộc.
 Sản xuất phát triển từ thế kỷ 11 làm tiền đề cho nền kinh tế hàng hóa. Nền kinh tế tự nhiên dần không thể đáp ứng sản lượng hàng hóa gia tăng, nhu cầu mở rộng thị trường giúp khám phá ra các vung đất mới với nguồn tài nguyên dồi dào. Từ đây, tích lũy nguyên thủy tư bản ra đời và các nền kinh tế hàng hóa nở rộ ở các nướn Tây Âu.
1.2. Sau Cách mạng công nghiệp Anh (Từ cuối thế kỷ 18)
o Kinh tế địa chủ ở nông thôn và kinh tế phường hội thủ công nghiệp ở thành thị phong kiến trở nên lỗi thời, kìm hãm sức sản xuất mới đang phát triển. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến đã dẫn đến những cuộc cách mạng tư sản cổ điển lật đổ chế độ phong kiến.
o Cuộc Cách mạng công nghiệp thứ nhất (cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19) đã đưa ra máy hơi nước, lấy cơ khí thay cho cơ bắp, năng lượng chính là than đá.
o Các phát minh, cải tiến kĩ thuật xuất hiện trong hầy hết các lĩnh vực sản xuất điển hình là dệt may, luyện kim, giao thông vận tải. Cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy sự tái phân bố lực lượng sản xuất và phân công lại lao động xã hội. Kinh tế các nước tư bản đã có sự phát triển vượt bậc.
o Cuộc Cách mạng công nghiệp thứ hai (cuối thế kỷ 19) cho ra đời các phát minh về năng lượng – điện và khí đốt. Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp mới, đây nhanh quá trình tích tụ và tập trung tư bản, cùng sự tập trung sản xuất đã dẫn đến sự thống trị của các tổ chức độc quyền tư bản.
 Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên cuối thế kỷ 19, các nước Tây Âu bước vào nền kinh tế thị trường tự do phát triển vũ bão, với thị trường khu vực và thuộc địa trải dài khắp thế giới. Sự chuyển mình của nền kinh tế Tây Âu sang kinh tế thị trường đánh dấu một quá trình phát triển kinh tế xã hội mang ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới bởi hệ thống thuộc địa rộng lớn.
2. Mỹ
Nền kinh tế Mỹ hiện đại có nguồn gốc từ cuộc tìm kiếm lợi ích kinh tế của những người định cư châu Âu vào thế kỷ XVI, XVII và XVIII. Sau đó, Tân thế giới đã phát triển từ một nền kinh tế thuộc địa có ít thành công thành một nền kinh tế trang trại nhỏ độc lập, và cuối cùng là một nền kinh tế công nghiệp liên hợp cao. Trong quá trình tiến hóa này, Hoa Kỳ đã xây dựng nhiều hơn bao giờ hết các thể chế phức tạp để phù hợp với sự phát triển của mình.
2.1. Thời ki sơ khai tiền thuộc địa
o Những người dân đầu tiên của Bắc Mỹ là người Mỹ bản địa – những người thổ dân được cho là đã đến đây định cư từ khoảng 20.000 năm trước qua dải đất nối với châu Á, ngày nay gọi là eo biển Bering. (Họ bị những nhà thám hiểm châu Âu gọi nhầm là “người ấn Độ” (Indians) vì nghĩ rằng đã đến được ấn Độ khi lần đầu tiên đặt chân lên châu Mỹ). Những người bản địa này được tổ chức theo các bộ tộc, và trong một số trường hợp theo liên minh các bộ tộc. Họ chỉ buôn bán trao đổi với nhau, nên trước khi người định cư châu Âu tới đây, họ có rất ít mối liên hệ với các dân tộc thuộc lục địa khác, ngay cả với người bản địa khác ở Nam Mỹ. Các hệ thống kinh tế họ từng xây dựng nên đã bị phá hủy bởi người châu Âu đến định cư trên đất đai của họ.
o Người Viking là những người châu Âu đầu tiên “khám phá” ra châu Mỹ. Nhưng sự kiện này, xảy ra vào khoảng năm 1000, bị rơi vào quên lãng; vào thời gian đó, phần lớn xã hội châu Âu vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp và sở hữu đất đai. Thương nghiệp vẫn chưa có tầm quan trọng để có thể tạo ra động lực cho việc thám hiểm sâu hơn và định cư trên Bắc Mỹ.
o Vào năm 1492, Christopher Columbus, một người Italia dẫn đầu đoàn thuyền của Tây Ban Nha đã lên đường để tìm một tuyến đường phía tây nam sang châu Á và đã khám phá ra một “Tân thế giới”. Trong 100 năm tiếp theo, các nhà thám hiểm người Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Pháp từ châu Âu đến Tân thế giới để tìm kiếm vàng, sự giàu có, danh vọng và vinh quang.
o Nhưng vùng Bắc Mỹ hoang dã đã mang lại cho các nhà thám hiểm đầu tiên này rất ít vinh quang và vàng bạc, nên hầu hết họ không ở lại. Những người thực sự đến định cư ở Bắc Mỹ tới đây muộn hơn. Năm 1607, một nhóm người Anh đã xây dựng nơi định cư lâu dài đầu tiên ở vùng đất sau này trở thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nơi định cư này, Jamestown, ngày nay thuộc bang Virginia.
 Trước thời kì thuộc địa, ở châu Mỹ chỉ tồn tại nền kinh tế tự nhiên giữa các bộ tộc người bản địa, chưa xuất hiện quá trình sản xuất hàng hóa dù là sản xuất hàng hóa đơn giản.
2.2. Thời kì thuộc địa
o Những người định cư đầu tiên có nhiều lý do khác nhau để tìm kiếm một quê hương mới. Người hành hương định cư tại Massachusetts là những người Anh ngoan đạo, có kỷ cương muốn thoát khỏi sự ngược đãi tôn giáo. Các bang thuộc địa khác, chẳng hạn như Virginia, được thành lập chủ yếu dựa trên các hoạt động kinh doanh. Nhưng dù sao, lòng ngoan đạo và lợi ích thường đi đôi với nhau.
o Thành công của nước Anh trong việc thuộc địa hóa vùng đất sau này trở thành nước Mỹ phần lớn là do nó sử dụng các công ty buôn bán có đặc quyền do hoàng gia quy định. Các công ty có đặc quyền là những nhóm cổ đông (thường là các thương nhân và các chủ đất giàu có) tìm kiếm các lợi ích kinh tế cá nhân và có thể họ cũng muốn thúc đẩy các mục tiêu quốc gia của nước Anh. Trong khi khu vực tư nhân cấp tài chính cho các công ty này, thì nhà vua ban cho mỗi dự án một đặc quyền hay sự thừa nhận các quyền lợi về kinh tế cũng như sự ủy quyền về chính trị và pháp lý. Tuy nhiên, các bang thuộc địa nhìn chung không tạo ra lợi nhuận nhanh chóng, và các nhà đầu tư người Anh thường chuyển giao các đặc quyền thuộc địa của họ cho những người định cư. Mặc dù không được nhận thức ngay lúc đó, nhưng ý nghĩa chính trị của việc làm này rất to lớn. Những người thuộc địa được tuỳ ý xây dựng cuộc sống riêng, cộng đồng riêng và nền kinh tế riêng của mình – thực tế là bắt đầu xây dựng các cơ sở nền tảng của một quốc gia mới.
o Sự thịnh vượng ban đầu ở thuộc địa là do săn bắt và buôn bán lông thú. Thêm nữa, đánh bắt cá là nguồn của cải chủ yếu ở Massachusetts. Nhưng trên khắp các bang thuộc địa, dân chúng cơ bản sống nhờ vào các trang trại nhỏ và tự cung tự cấp. Ở vài thành phố nhỏ và trong các đồn điền lớn thuộc Bắc Carolina, Nam Carolina và Virginia, một số nhu yếu phẩm và hầu như toàn bộ hàng hóa xa xỉ được nhập khẩu, đồng thời những nơi này xuất đi thuốc lá, gạo và thuốc nhuộm.
o Các ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển khi thuộc địa lớn mạnh dần. Hàng loạt nhà máy cưa và nhà máy xay bột xuất hiện. Những người định cư thành lập xưởng đóng tàu để xây dựng các đội tàu đánh cá và cả các tàu buôn. Họ cũng xây dựng các xưởng rèn sắt. Đến thế kỷ XVIII, các mô hình phát triển theo khu vực đã trở nên rõ ràng: các bang thuộc địa New England dựa vào ngành đóng tàu và đi biển để làm giàu; các đồn điền (nhiều nơi sử dụng lao động nô lệ) ở Maryland, Virginia và Carolina trồng thuốc lá, gạo, thuốc nhuộm; các bang thuộc địa miền trung như New York, Pennsylvania, New Jersey và Delaware xuất khẩu nông phẩm và lông thú. Trừ những người nô lệ, mức sống ở đây tương đối cao – thực tế là cao hơn cả ở chính nước Anh. Do các nhà đầu tư Anh rút đi nên địa bàn được mở rộng cho các nhà kinh doanh là người định cư ở thuộc địa.
o Tới năm 1770, các thuộc địa Bắc Mỹ đã chín muồi cả về kinh tế lẫn chính trị để trở thành một phần của phong trào giành quyền tự trị đang nổi lên, phong trào chi phối nền chính trị nước Anh từ thời James I (1603-1625). Những cuộc tranh chấp với nước Anh về thuế khóa và các vấn đề khác gia tăng; người Mỹ hy vọng có những thay đổi về mức thuế của nước Anh cũng như những điều chỉnh đáp ứng yêu cầu của họ về quyền tự trị lớn hơn. Binh lính Anh, trong khi định tịch thu một kho vũ khí của quân đội thuộc địa ở Concord, bang Massachusetts, đã va chạm với lực lượng dân quân tự vệ thuộc địa. Một người – không biết chính xác là ai – bắn một phát súng, và cuộc chiến kéo dài tám năm bắt đầu. Trong khi việc ly khai chính trị khỏi nước Anh có thể không phải là mục tiêu chính ban đầu của người dân thuộc địa, thì nền độc lập và sự hình thành một quốc gia mới – Hợp chúng quốc Hoa Kỳ – lại là kết quả cuối cùng.
 Trong thời kì thuộc địa, ở châu Mỹ xuất hiện nền kinh tế sản xuất hàng hóa đơn giản mang tính chất thị trường tự do cổ điển, bắt nguồn từ các cộng đồng người thuộc địa được trao cho các đặc quyền thuộc địa từ các công ty mẫu quốc (chủ yếu là Anh quốc) với sự phát triển và nền kinh tế riêng. Phân công xã hội hình thành, tạo nên mô hình phát triển kinh tế theo khu vực với các ngành nghề đặc trưng.
2.3. Nền kinh tế của quốc gia mới
o Hiến pháp Hoa Kỳ, được thông qua năm 1787 và có hiệu lực cho đến ngày nay, là một thành quả sáng tạo trên nhiều phương diện. Như một hiến chương về kinh tế, nó thiết lập trên quốc gia toàn vẹn này – trải dài từ Maine cho đến Georgia, từ Đại Tây Dương cho đến thung lũng Mississippi – một thị trường thống nhất hay thị trường “chung”. Không có thuế quan hoặc các loại thuế khác trong buôn bán giữa các bang. Hiến pháp quy định chính phủ liên bang có thể điều chỉnh thương mại với nước ngoài và giữa các bang, xây dựng luật phá sản thống nhất, in tiền và điều chỉnh giá trị của nó, cố định các loại tiêu chuẩn về cân và đo lường, xây dựng các trạm bưu điện và đường giao thông, xây dựng các đạo luật về quản lý bằng sáng chế và bản quyền tác giả. Điều khoản cuối cùng này là sự thừa nhận rất sớm tầm quan trọng của “sở hữu trí tuệ”, một vấn đề được coi là rất quan trọng trong thương lượng buôn bán cuối thế kỷ XX.
o Alexander Hamilton, một trong những Nhà lập quốc và là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên, ủng hộ một chiến lược phát triển kinh tế trong đó chính phủ liên bang cần phải nuôi dưỡng những ngành công nghiệp non trẻ bằng việc cung cấp các khoản hỗ trợ công khai và đánh thuế bảo hộ vào hàng nhập khẩu. Ông cũng đề xuất với chính phủ liên bang thành lập ngân hàng quốc gia và gánh vác các khoản nợ công cộng mà các bang thuộc địa đã vay trong cuộc Chiến tranh cách mạng. Chính phủ mới nhiều lần trì hoãn một số đề nghị của Hamilton, nhưng cuối cùng đã chấp nhận thuế quan là một phần cơ bản của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ – một quan điểm kéo dài đến tận giữa thế kỷ XX.
o Mặc dù ban đầu người nông dân Mỹ sợ rằng ngân hàng quốc gia sẽ phục vụ người giàu bằng phí tổn của người nghèo, nhưng Ngân hàng quốc gia Hoa Kỳ đầu tiên vẫn được sáng lập vào năm 1791; nó tồn tại cho đến năm 1811, sau đó một ngân hàng kế vị khác được thành lập.
o Hamilton tin rằng Hoa Kỳ có thể theo đuổi tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động đa dạng của ngành tàu biển, ngành công nghiệp chế tạo và hoạt động ngân hàng. Đối thủ chính trị của Hamilton, Thomas Jefferson, đã đưa ra triết lý của mình dựa trên việc bảo vệ người dân bình thường khỏi sự chuyên chế về chính trị và kinh tế. Ông đặc biệt ca ngợi người tiểu nông như là “các công dân có giá trị nhất”. Đến năm 1801, Jefferson trở thành Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809) và thúc đẩy một nền dân chủ nông nghiệp phi tập trung hóa mạnh mẽ.
Sự tăng trưởng công nghiệp, các phát minh và các trùm tư bản:
o Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, và đã nhanh chóng lan sang nước Mỹ. Năm 1860, khi Abraham Lincoln được bầu làm tổng thống, 16% dân số nước Mỹ sống ở đô thị, và một phần ba thu nhập quốc dân là từ ngành công nghiệp chế tạo. Nền công nghiệp được đô thị hóa ban đầu chỉ giới hạn ở vùng Đông Bắc; sản xuất vải bông là ngành công nghiệp hàng đầu, tiếp đến là các ngành sản xuất giầy, vải len và chế tạo máy cũng được mở rộng. Nhiều công nhân mới là người nhập cư. Từ năm 1845 đến 1855, mỗi năm có gần 300.000 người nhập cư châu Âu đến đây. Hầu hết họ là người nghèo và ở lại các thành phố miền Đông, thường là tại các cảng nơi họ đến.
o Sự phát triển kinh tế nhanh chóng sau cuộc Nội chiến đã đặt nền móng cho nền kinh tế công nghiệp hiện đại Hoa Kỳ. Sự bùng nổ các phát minh và sáng chế mới xuất hiện, gây ra những biến đổi sâu sắc đến mức một số người đã gọi các thành quả này là “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai”. Dầu mỏ được khám phá ở phía tây Pennsylvania. Máy chữ được phát triển. Toa xe lửa có máy lạnh được đưa vào sử dụng. Điện thoại, máy hát và đèn điện được phát minh. Tới đầu thế kỷ XX, ô tô thay thế cho xe kéo và con người có thể bay bằng máy bay.
o Song song với những thành quả đó là sự phát triển hạ tầng cơ sở công nghiệp quốc gia. Than đá được phát hiện với trữ lượng lớn ở dãy núi Appalachian chạy từ phía nam Pennsylvania cho đến Kentucky. Các mỏ sắt lớn được khai thác ở vùng Thượng Hồ (Lake Superior) thuộc phía trên của miền Trung Tây. Các nhà máy phát triển mạnh tại những nơi mà hai loại nguyên liệu thô quan trọng trên có thể cùng được đưa vào để sản xuất ra thép. Các mỏ đồng và bạc, tiếp đến là các mỏ chì và nhà máy xi măng, cũng được mở ra.
o Khi ngành công nghiệp phát triển mạnh lên, thì kèm theo nó là các phương pháp sản xuất hàng loạt ra đời. Frederick W. Taylor là người đi đầu trong lĩnh vực quản lý khoa học vào cuối thế kỷ XIX; ông đã chia nhỏ chức năng của những công nhân khác nhau và trang bị những phương pháp mới hiệu quả hơn để họ thực hiện công việc của mình. (Phương pháp sản xuất hàng loạt thực sự là sáng kiến của Henry Ford; năm 1913 ông đã đưa các dây chuyền lắp ráp vào hoạt động, mỗi công nhân chỉ thực hiện một nhiệm vụ đơn giản trong dây chuyền sản xuất ô tô. Với một hành động được xem là biết nhìn xa, ông trả một mức lương rất hào phóng – 5 USD một ngày – cho công nhân của mình, tạo điều kiện cho nhiều người mua ô tô do mình sản xuất ra, giúp ngành công nghiệp này phát triển).
o “Thời kỳ vàng son” của nửa sau thế kỷ XIX là kỷ nguyên của các trùm tư bản. Nhiều người Mỹ đã lý tưởng hóa những nhà kinh doanh trùm tài phiệt rất giàu có này. Thường thường, thành công của họ là do nắm bắt được tiềm năng rộng lớn trong dài hạn của một sản phẩm hoặc dịch vụ mới, chẳng hạn như John D. Rockefeller đã làm với dầu mỏ. Họ là những nhà cạnh tranh mãnh liệt, chỉ có mục đích duy nhất là theo đuổi thành công và quyền lực về tài chính. Những người khổng lồ khác ngoài Rockefeller và Ford phải kể đến Jay Gould, người đã đầu tư tiền của mình vào đường sắt; J.Pierpont Morgan đầu tư vào ngân hàng, và Andrew Carnegie đầu tư vào thép. Một số trùm tư bản là trung thực theo các chuẩn mực kinh doanh thời bấy giờ; tuy nhiên, những người khác thường sử dụng vũ lực, hối lộ và lừa đảo để đạt được sự giàu có và quyền lực cho mình. Dù tốt hay xấu, các nhóm lợi ích kinh doanh đều giành được ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền.
Sự can thiệp của chính phủ:
o Trong những năm đầu của lịch sử nước Mỹ, hầu hết các nhà lãnh đạo chính trị đều ngần ngại khi để chính phủ liên bang can thiệp quá sâu vào khu vực kinh tế tư nhân, trừ lĩnh vực vận tải. Nhìn chung, họ chấp nhận khái niệm về chính sách để mặc tư nhân tự do kinh doanh (laissez-faire), một học thuyết chống lại sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế trừ hoạt động duy trì luật pháp và trật tự. Quan điểm này bắt đầu thay đổi vào cuối thế kỷ XIX, khi các phong trào của người lao động, chủ trang trại và chủ doanh nghiệp nhỏ bắt đầu yêu cầu chính phủ thay mặt họ can thiệp.
o Bước sang thế kỷ XX, một tầng lớp trung lưu đã phát triển; tầng lớp này thận trọng với cả giới lãnh đạo kinh doanh lẫn các phong trào chính trị phần nào cực đoan của nông dân và công nhân miền Tây và Trung Tây. Được gọi là thành viên đảng Cấp tiến, những người này ủng hộ sự điều tiết của chính phủ trong hoạt động kinh doanh nhằm bảo đảm cạnh tranh và doanh nghiệp tự do. Họ cũng đấu tranh chống tham nhũng trong khu vực công cộng.
o Quốc hội thông qua một đạo luật điều tiết ngành đường sắt năm 1887 (Đạo luật Thương mại liên tiểu bang), và luật ngăn cản việc các hãng lớn kiểm soát một ngành công nghiệp riêng vào năm 1890 (Đạo luật chống độc quyền Sherman). Tuy vậy, các luật này không được thi hành chặt chẽ cho đến những năm 1900 – 1920, khi Tổng thống Đảng Cộng hòa Theodore Roosevelt (1901-1909), Tổng thống Đảng Dân chủ Woodrow Wilson (1913-1921), và những người khác đồng quan điểm với các thành viên đảng Cấp tiến, lên nắm quyền. Nhiều cơ quan điều tiết của Mỹ ngày nay được lập ra trong thời gian đó, kể cả ủy ban thương mại liên tiểu bang, Cơ quan quản lý lương thực và dược phẩm và ủy ban thương mại liên bang.
o Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế tăng lên mạnh mẽ trong suốt thời kỳ Chính sách mới những năm 1930. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 mở đầu thời kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ, cuộc Đại khủng hoảng kinh tế (1929-1940). Tổng thống Franklin D. Roosevelt (1933-1945) đã đề ra Chính sách mới nhằm giảm bớt tình trạng nguy cấp đó.
o Rất nhiều đạo luật và thể chế quan trọng nhất xác lập nên nền kinh tế hiện đại Hoa Kỳ đều được bắt nguồn trong kỷ nguyên của Chính sách mới. Luật pháp thời kỳ này mở rộng quyền hạn của liên bang trong hoạt động ngân hàng, nông nghiệp và phúc lợi công cộng. Nó thiết lập các chuẩn mực tối thiểu về mức lương và giờ làm việc, và có vai trò như một chất xúc tác để mở rộng các nghiệp đoàn lao động trong những ngành công nghiệp như ngành thép, chế tạo ô tô và cao su. Các chương trình và các cơ quan mà ngày nay dường như không thể thiếu được để điều hành nền kinh tế hiện đại của đất nước đã được thiết lập: ủy ban chứng khoán và hối phiếu, cơ quan điều tiết thị trường chứng khoán; Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang, là cơ quan bảo hiểm các khoản ký thác tại ngân hàng; và có lẽ đáng chú ý nhất là hệ thống An sinh xã hội, chương trình chu cấp các khoản hưu trí cho người cao tuổi dựa vào sự tham gia đóng bảo hiểm của họ khi còn lao động.
o Các nhà lãnh đạo của thời kỳ Chính sách mới đã ủng hộ ý tưởng xây dựng mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp và chính phủ, nhưng một số trong những cố gắng đó không tồn tại được qua cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đạo luật khôi phục công nghiệp quốc gia, một chương trình ngắn ngủi của thời kỳ Chính sách mới, tìm cách khuyến khích các chủ doanh nghiệp và công nhân giải quyết tranh chấp dưới sự giám sát của chính phủ và từ đó tăng năng suất và hiệu quả lao động. Trong khi nước Mỹ chưa bao giờ hướng tới chủ nghĩa phát xít, điều mà các thỏa thuận tương tự giữa doanh nghiệp – người lao động – chính phủ đã mang lại ở Đức và Italia, thì các sáng kiến của Chính sách mới đã cho thấy một sự chia sẻ quyền lực mới giữa ba nhân tố chủ chốt này của nền kinh tế. Sự tập hợp quyền lực này thậm chí phát triển mạnh hơn trong thời kỳ chiến tranh, khi chính phủ Mỹ can thiệp rất mạnh vào nền kinh tế. Ban sản xuất thời chiến đã điều phối các khả năng sản xuất của quốc gia sao cho những ưu tiên cho quân sự có thể được đáp ứng. Các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng được chuyển đổi đã hoàn thành nhiều hợp đồng của quân đội. Ví dụ, các nhà sản xuất ô tô thì chế tạo xe tăng và máy bay, biến nước Mỹ thành một “kho vũ khí của nền dân chủ”. Trong một nỗ lực phòng ngừa lạm phát do việc nâng cao thu nhập quốc dân và tình trạng khan hiếm hàng tiêu dùng gây ra, Văn phòng quản lý giá cả mới được thành lập đã kiểm soát tiền thuê nhà của các nhà trọ, phân phối hàng tiêu dùng từ đường cho đến xăng dầu, và mặt khác cố gắng kiềm chế sự tăng giá.
2.4. Kết luận
 Sau khi tuyên ngôn độc lập vào năm 1787, với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp Anh cuối thế kỷ 18, Mỹ nhanh chóng chuyển từ nền kinh tế thị trường cổ điển sang nền kinh tế thị trường hỗn hợp. Từ thời kì thuộc địa, hai yếu tố tạo nên một nền kinh tế thị trường đã hột tụ đủ: kỹ thuật thủ công dựa trên lao động hiệp tác giản đơn và Phân công công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Từ sự kết hợp với đại công nghiệp cơ khí ở châu Âu, năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hoá lao động và sản xuất ngày càng cao, mở rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và những thành thị lớn; đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật. Từ đây, kinh tế Mỹ chịu sự chi phối của thị trường tự do. Sau đó, với sự tác động và can thiệp của chính phủ, nền kinh tế tự do chuyển dần sang nền kinh tế hỗn hợp.
3. Nhật Bản
3.1. Thời Edo (1603–1868)
Nền kinh tế Nhật Bản trước khi có sự xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (Thế kỷ 17):
o Từ đầu thế kỉ 17, dòng họ Tokugawa chinh phục các đối thủ cà thiết lập nên chế độ cai trị kép của triều đình (Nhật hoàng) và Tướng quân (Mạc phủ). Tầng lớp võ sĩ đạo có địa vị cao nhất và hưởng nhiều đặc quyền nhẩ. Thương nhân và thợ thủ công là hai tầng lớp bị khinh miệt nhất trong xã hội. Nông nghiệp là cơ sở của chế độ phong kiến Nhật Bản. Phần lớn nông dân không có ruộng đất, bị bóc lột cùng cực, phải cấy rẽ cho địa chủ với mức tô hiện vật phải nộp từ 50-70% số thu nhập hàng năm.
o Trong những thập kỷ cuối cùng của mậu dịch với người Bồ Đào Nha (từ thế kỷ 16), nước Nhật đã có tương tác mạnh mẽ với các cường quốc Tây Phương về mặt kinh tế và tôn giáo. Khởi đầu của thời kỳ Edo trùng với những thập kỷ này khi Nhật đã đóng những chiến thuyền vượt đại dương theo kiểu Tây phương đầu tiên như thuyền buồm 500 tấn San Juan Bautista chuyên chở phái bộ ngoại giao Nhật do Hasekura Tsunenaga dẫn đầu đến Mỹ rồi sau đó đến Châu Âu.
o Tuy nhiên, để loại trừ ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo, Nhật tiến vào một thời kỳ cô lập gọi là sakoku với nền kinh tế “bế quan tỏa cảng.” Số nông dân không ruộng cày ngày càng đông, trong khi đó tầng lớp võ sĩ đạo phải chuyển sang các nghề thủ công, buôn bán và kết than với tầng lớp thị dân. Điều này dẫn đến sự khủng hoảng của hệ thống đẳng cấp phong kiến, đồng thời thúc đẩy các mầm mống tư bản chủ nghĩa phát triển.
 Ở các triều đại phong kiến Nhật Bản, cũng như ở nhiều nước phương đông khác, tồn tại nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp với nền móng nông nghiệp, cho đến khi xuất hiện quan hệ giao thương với phương tây được tiến hành.
Nền kinh tế Nhật Bản phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
o Do bị kiềm chế bởi chính quyền Mạc phủ với chế độ cát cứ phong kiến và quy chế phường hội, mầm mống quan hệ sản xuất tư bản ban đầu chưa có điều kiện phát triển như ở Tây Âu, thương nghiệp và công trường thủ công bị hạn chế.
o Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của sản suất trong nước và tác động của chủ nghĩa tư bản phương tây đã dần dần phá vỡ khuôn khổ của pháp luạt phong kiến và chính sách bế quan tỏa cảng bấy giờ. Sang thế kỷ 18, nhiều công trường thủ công mới ra đời, sau đó phân tán phát triển thuận lợi. Vòa nửa đầu thế kỷ 19 (sau khi cách mạng công nghiệp Anh nổ ra), công trường thủ công bước vào thời kì công nghiệp hóa với máy móc được sử dụng ở một số nơi. Năm 1864, ở vùng Kunin có tới 267 xí nghiệp dệt lụa sử dụng từ 5.000 đến 6.000 bàn dệt. Năm 1852, lò cao đàu tiên được xây dựng, nhiều xưởng đóng tàu mới xuất hiện. Cho tới trước cải cách Minh Trị, Nhật Bản có 420 công trường thủ công các loại.
o Năm 1853, hạm đội viễn chinh Mỹ đã nổ sung vào thủ đô của Nhật. Trước nguy cơ bị xâm lược, Mạc phủ Tokugawa phải ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng với các nước phương tây. Hàng hóa nước ngoài tràn ngập đã làm gay gắt thêm các mâu thuẫn kinh tế xã hội ở Nhật Bản. Nền sản xuất thủ cồn bị chèn ép, nhiều thương nhân và thợ thủ công bị phá sản. Nông dân địa phương do bị bóc lột nặng nề đã nội dậy chống lại Mạc phủ.
o Sự uy hiếp của chủ nghĩa thực dân phương tây lan ra nhanh chóng. Sự uy hiếp của phương tây và sự đối mặt với khoảng cách công nghệ giữa phương tây và Nhật Bản đã thức tỉnh ý thức dân tộc của người dân Nhật, dẫn cuộc nội chiến mà chiến thắng thuộc về những người ủng hộ quyền lực của Nhật hoàng, xóa bỏ chế độ Mạc phủ, chấp nhận buôn bán với phương tây. Ngay sau khi nội chiến kết thúc, chính quyền mới đã tiến hành một cuộc cải cách toàn diện trên tất cả câc lĩnh vực để đưa đất nước lên chủ nghĩa tư bản và thoát khỏi hiểm họa xâm lược của phương tây.
o Phát triển kinh tế trong suốt thời kỳ Edo bao gồm đô thị hóa, gia tăng vận tải hàng hóa bằng tàu, mở rộng thương mại nội địa và bắt đầu mua bán với nước ngoài, phổ biến thương nghiệp và thủ công nghiệp. Thương mại xây dựng rất hưng thịnh song hành với các cơ sở ngân hàng và hiệp hội mậu dịch. Các lãnh địa chứng kiến sự tăng mạnh dần trong sản xuất nông nghiệp và sự lan rộng của ngành thủ công ở nông thôn.
 Nền kinh tế thời kỳ Edo – Mạc phủ Tokugawa mặc dù là nền kinh tế nông nghiệp, song đã là một nền kinh tế hàng hóa phát triển tương đối rộng khắp, mang tính thị trường tự do cổ điển. Thay vì một nền nông nghiệp để sống thuần túy, việc sản xuất cho thị trường đã dần dần trở thành tiêu chuẩn cho dân chúng làm nông nghiệp. Một phần khá đông dân số đã tham gia vào thương mại ở các mức độ khác nhau, nhất là ở vùng đô thị.
3.2. Thời Minh Trị (1868 – 1945)
Thời kỳ 1870-1890:
o Năm 1868, sau chiến tranh Boshin, Thiên hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước. Chính phủ mới coi công nghiệp là một trong những trụ cột của một quốc gia hiện đại, và vì vậy đã đề ra nhiều chính sách phát triển nền công nghiệp.
o Sau một loạt cải cách cho phép được tự do lựa chọn nghề nghiệp và nắm được cơ sở thuế vững chắc dựa trên thuế ruộng đất, chính phủ đã bắt tay vào công nghiệp hóa thông qua “Chính sách xúc tiến công nghiệp”. Cụ thể, chính phủ tiến hành xây dựng hệ thống ngân hàng quốc gia, phát hành đồng Yên thay thế cho hệ thống tiền tệ phức tạp thời Tokugawa, phát triển các ngành khai mỏ và công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sắt, đường bộ,…), thúc đẩy công nghiệp nhẹ.
o Xúc tiến xây dựng hệ thống ngân hàng, cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ngay từ đầu đã cho phép Nhật Bản rút ngắn thời gian, nhanh chóng hiện đại hóa, đi vào công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp.
o Để bảo vệ nền công nghiệp non trẻ trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài, chính phủ khuyến khích thành lập các thương hội theo ngành nghề và địa phương để có điều kiện hướng dẫn kỹ thuật và giới thiệu chuyên gia cho các xí nghiệp. Đối với khu vực công nghiệp hiện đại, chính phủ trợ cho họ bằng cách cho vay dài hạn với lãi suất thấp.
o Năm 1898, Nhật Bản đã đóng được tàu thủy trọng tải trên 6 ngàn tấn.
Thời kỳ 1900-1919:
o Năm 1900, Nhật Bản hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng dệt và bắt đầu xuất khẩu mặt hàng này. Sau đó, các hàng công nghiệp nhẹ khác cũng gia nhập danh sách hàng xuất khẩu. Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu hàng sơ cấp trong khi vẫn làm sâu thêm thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp.
o Ngay sau khi giành lại được độc lập hạn chế đối vấn đề thuế quan vào năm 1902 và độc lập đầy đủ vào năm 1911, chính phủ đã trực tiếp bảo hộ các ngành công nghiệp của mình bằng nâng mức thuế nhập khẩu lên.
Thời kỳ 1920-1937:
o Đầu thập niên 1920, công cuộc công nghiệp hóa của Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng thứ cấp. Chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển mạnh mẽ. Cơ cấu công nghiệp thời kỳ này được xem là “nhân tạo” do có sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ.
o Chính phủ đẩy mạnh hơn nữa việc bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, tiếp tục trợ cấp và giới thiệu những công nghệ tiên tiến của thế giới cho các ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Nhờ những chính sách này, mức độ tập trng sản xuất đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt thấy rõ qua sự phát triển của các zaibatsu. Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, công nghiệp nặng của Nhật Bản đã thu hút tới 40% tổng số lao động và đóng góp 50% vào sản lượng công nghiệp của đất nước.
o Nhật Bản đã phát triển được các công nghệ tiên tiến nhất thời bấy giờ trong các lĩnh vực đóng tàu, chế tạo máy bay.
 Nền kinh tế thị trường, đã xuất hiện các trùm tư bản lớn như Mitsubishi, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ các chính sách đối nội, đối ngoại của Thiên hoàng Minh Trị. Dưới chế độ đế quốc quân phiệt phong kiến, ở Nhật Bản hình thành nền kinh tế thị trường hỗn hợp.
4. Trung Quốc
4.1. Trước khi cải cách mở cửa
o Nền kinh tế Trung Quốc suốt 30 năm sau khi thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Trung Hoa có những đặc trưng cơ bản là tập trung cao, hiệu quả kém, cơ cấu kinh tế lệch lạc, kinh tế tăng trưởng không đi đôi với phát triển.
Tăng trưởng không đi đôi với phát triển:
o Nền kinh tế Trung Quốc thời kỳ này dù có tốc độ tăng trưởng cao song không phản ánh thực tế sự phát triển của quốc gia, vì kinh tế vẫn lạc hậu, không đạt được mục tiêu hiện đại hóa.
o Tăng trưởng không đi đôi với phát triển thể hiện ở tốc độ tăng trưởng hằng năm của công nghiệp là 11%, trong khi của nông nghiệp là 3,2% và của thương nghiệp là 4,2%.
o Trong thể chế kế hoạch tập trung cao độ, nhà nước huy động các nguồn lực cho sản xuất, thu nhập cá nhân và mức sống nhân dân bị hạn chế. Hơn nữa, do cơ cấu ngành thiên về sản xuất tư liệu sản xuất, lượng cung cấp hàng tiêu dùng thiếu, mức sống của người dân không được cải thiện. Đó cũng là một khía cạnh làm cho kinh tế tăng trưởng cao nhưng không phát triển.
Cơ cấu kinh tế lệch lạc:
o Kinh tế Trung Quốc từ những năm 50 đã sớm ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Một thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ đã được thiết lập. Chế độ công hữu được đẩy lên trình độ cao bằng sự cưỡng bức quốc hữu hóa công nghiệp, thương nghiệp và tập thể hóa nông nghiệp.
o Hậu quả của chiến lược ưu tiên phát triển công nghiệp nặng là tạo nên một nền kinh tế có cơ cấu tương đối hợp lý về bên ngoài song lại lệch lạc về thực chất. Tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp nặng luôn cao hơn từ 6 đến 9 lần so với công nghiệp nhẹ.
Nền kinh tế kém hiệu quả:
o Nhà nước thiết lập cơ chế kinh tế kế hoạch, phân bổ các nguồn lực một cách chủ quan duy ý chí. Đồng thời, chức năng của hệ thống quản lý ngành và hệ thống quản lý hành chính không rõ ràng, hoạt động chồng chéo làm cho kinh tế kém hiệu quả.
o Hoạt động kinh tế thiếu tính cạnh tranh. Do trình độ công nghệ thấp, chi phí sản xuất cao nên sản phẩm không thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việc bảo hộ các ngành trong nước làm cho các ngành này không được kích thích nâng cao năng suất, một số ngành không phát huy hết hiệu quả qui mô. Ngoài ra, do nhà nước thu mua tiêu thụ toàn bộ sản phẩm nên các xí nghiệp không được khuyến khích nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.
o Kết quả công việc của người lao động không gắn với hiệu quả công việc của họ mà gắn với một hệ thống lương cố định. Trong nông nghiệp, chế độ hợp tác hóa gò ép không khuyến khích được tính tịch cực của người lao động mà còn gây ra tình trạng chây lười tràn lan.
 Sau khi xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế Mãn Thanh, nền kinh tế Trung quốc chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên – tự cung tự cấp sang nền kinh tế kế hoạch tập trung dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy nhiên, nền kinh tế gặp phải những trở ngại nghiêm trọng do đường lối và kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội còn rất nhiều hạn chế. Nền kinh tế thị trường không tồn tại.
4.2. Bối cảnh chuyển sang kinh tế thị trường
o Vào cuối những năm 70, Trung Quốc rơi vào sự rối loạn, bi đát. Chủ trương “4 hiện đại hóa” được đưa vào chương trình hành động. Tuy nhiên hiện đại hóa không thể áp dụng thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ, không thể điều hành kinh tế bằng khẩu hiệu chính trị bất chấp quy luật khách quan. Vì vậy sau 2 năm điều hành đất nước vẫn bằng những chính sách cũ, nền kinh tế Trung Quốc không có chuyển biến gì mới mẻ.
o Đời sống kinh tế Trung Quốc cuối những năm 70 đòi hỏi một sự thay đổi căn bản nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, đúng qui luật. Cũng vào thời điểm này, trên thế giới đã diễn ra những xu hướng kinh tế mới có lợi cho sự phát triển của các nước, đó là các xu hướng hòa bình và phát triển, khu vực hóa, toàn cầu hóa, vừa hợp tác vừa cạnh tranh…
o Trung Quốc phê phán mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kéo dài gây trì trệ cho nền kinh tế. Bộ máy Nhà nước mang tính tập trung quan liêu, hệ thống tổ chức cồng kềnh, hiệu quả hoạt động thấp. Công tác Đảng và công tác chính quyền chồng chéo lên nhau.
o Trung Quốc cũng thừa nhận tình trạng đóng cửa lâu ngày đã làm cho nền kinh tế trì trệ cho sản xuất và dẫn đến sự tụt hậu trong phát triển kinh tế.
Trước bối cảnh đó, Trung Quốc đã khởi xướng chính sách cải cách mở cửa:
o Vào thời điểm lịch sử Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (tháng 12/ 1978), Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chuyển trọng tâm từ đấu tranh giai cấp sang hoạt động kinh tế, chấn hưng Trung Hoa bằng các biện pháp kinh tế. Về đại thể, thể chế kinh tế Trung Quốc đã trải qua mấy giai đoạn: thể chế kinh tế kế hoạch; kinh tế kế hoạch là chính, thị trường là phụ; kinh tế hàng hóa có kế hoạch; kinh tế thị trường XHCN.
o Vào giai đoạn đầu cải cách, Trung Quốc chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa.
o Quan điểm của Trung Quốc là trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không phải do kế hoạch điều tiết đơn nhất mà có thể thực hiện sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường. Trung Quốc coi đây là kết luận cơ bản rút ra từ thực tiễn xây dựng kinh tế trong những năm qua.
o Đường lối kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khẳng định kinh tế xã hội chủ nghĩa là “kinh tế hàng hóa có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu” và “thực hiện kinh tế kế hoạch cùng với việc vận dụng quy luật giá trị và phát triển kinh tế hàng hóa không phải là bài xích nhau mà là thống nhất với nhau”.
o Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp từ thấp đến cao nhằm chuyển dần vai trò điều tiết trực tiếp của kế hoạch sang điều tiết gián tiếp thông qua thị trường.
o Từ tháng 10 năm 1992, tại Đại hội XIV, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dứt khoát lựa chọn thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của cải cách kinh tế. Theo quyết định này, Trung Quốc đã tiến hành cải cách tỷ giá, thuế… và hướng tới đồng bộ các loại thị trường để cơ chế thị trường hoạt động thông suốt.
 Từ cuối năm 1978, chính phủ Trung Quốc cải cách các chủ trương lãnh đạo, lấy phát triển kinh tế làm tiền đề, từ đó hình thành nền kinh tế kết hợp giữa thị trường (kinh tế hàng hóa) và kế hoạch tập trung (do chính phủ chi phối) – nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch.
5. Liên bang Xô Viết và Liên bang Nga
5.1. Kinh tế Liên bang Xô Viết (trước 1991)
o Cơ chế kinh tế: Liên Xô thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, quan liêu bao cấp.
o Trong 20 năm (1917 – 1937), Liên Xô đã phát triển kinh tế rất nhanh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. từ một nước đứng thứ 5 trên thế giới, Liên Xô đã vươn lên vị trí thứ 2 thế giới và đứng đầu châu Âu về sản xuất công nghiệp.
o Trong thời kỳ 1956 – 1975, đặc điểm nổi bật của kinh tế Liên Xô là phát triển ổn định, liên tục với tốc độ cao. Liên Xô tiếp tục đạt được những thành tựu đáng kể: đứng đầu thế giới về sản xuất gang, thép.
Bối cảnh chuyển đổi kinh tế:
o Từ cuối những năm 70, nền kinh tế Liên Xô ngày càng khó khăn, trì trệ.
o Năm 1985, Liên Xô tiến hành công cuộc cải tổ để giải quyết tình trạng đó. Tuy nhiên trong thời kỳ cải tổ, nền kinh tế Liên Xô tiếp tục bị khủng hoảng và sa sút.
o Năm 1990, tình hình kinh tế Liên Xô tiếp tục xấu đi: tổng sản phẩm xã hội giảm 2%, thu nhập quốc dân giảm 4%, lạm phát ở mức 19%, thị trường tiền tệ rối loạn…
o Nguyên nhân: tiến hành cải tổ thiếu đồng bộ và triệt để, đổi mới chậm chạp & thiếu kiên quyết, cơ chế kinh tế lỗi thời.
o Sau hơn 6 năm cải tổ, tình hình kinh tế – chính trị – xã hội Liên Xô lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Ngày 19/8/1991, Liên Xô, một siêu cường bậc nhất thế giới đã tan rã.
 Sau khi xóa bỏ chế độ phong kiến quân chủ Nga hoàng, Liên bang Xô Viết được thành lập vơi nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tự nhiên – tự cung tự cấp sang nền kinh tế kế hoạch tập trung dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Xô Viết. Tuy nhiên, sau những thành công vượt bậc, nền kinh tế đi vào suy thoái trầm trọng do công cuộc phát triển kinh tế xã hội bị ảnh hưởng bởi thất bại trong đương lối và chính sách đối nội, đối ngoại. Nền kinh tế thị trường không tồn tại ở giai đoạn này.
5.2. Kinh tế thời kỳ hậu Liên Xô – Liên bang Nga (sau 1991)
o Sau khi Liên Xô tan rã, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô tách ra thành các quốc gia độc lập, sau đó hình thành Cộng đồng các quốc gia đội lập, mỗi nước đều tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tế.
o Để thoát khỏi khủng hoảng, Chính phủ Nga đã chủ trương quá độ chuyển sang nền kinh tế thị trường có điều tiết nhằm hội nhập với nền kinh tế thế giới.
o Thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị trường (1991 – 1995), nền kinh tế Nga bị suy thoái nặng nề: tốc độ tăng GDP năm 1991 là -11,8%, năm 1992 là -17,8%, năm 1995 là -4%.
o Nguyên nhân cơ bản là do việc áp dụng rời rạc, thiếu đồng bộ các yếu tố cơ chế thị trường, sự rối loạn các chức năng điều tiết và kiểm soát nền kinh tế của Nhà nước.
o Từ năm 1996, tình hình kinh tế của nước Nga đã sáng sủa hơn: GDP có chiều hướng tăng, năm 1996 là -1%, năm 1997 là 0,8%.
o Từ năm 1999, kinh tế Nga bước vào giai đoạn phục hồi. GDP tăng trưởng liên tục, năm 1999 là 2%, năm 2000: 7,8%, năm 2001: 4,5%, năm 2003: 6,6%. Lạm phát tiếp tục giảm mạnh từ 190% năm 1995 xuống còn 12,5% năm 1998.
 Từ cuối năm 1991, Liên bang Xô Viết chính thức sụp đổ. Chính phủ lâm thời quyết định đưa nền kinh tế đất nước sang kinh tế thị trường hỗn hợp (có điều tiết của nhà nước), nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế trong nước và hội nhập với thế giới.
6. Việt Nam
6.1. Trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường (Trước 1986)
Giại đoạn trước khi tái thống nhất đất nước:
o Cũng như nhiều chế độ phong kiến phương đông khác, cho đến đầu thế kỷ 19, Việt Nam có một nền kinh tế tự nhiên. Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản, công cụ và kỹ thuật canh tác lạc hậu, dựa vào lao động chân tay là chủ yếu, chỉ có trong một số điền trang của địa chủ hoặc phường hội mới có hiệp tác lao động giản đơn. Trong nền kinh tế dưới chế độ phong kiến, phân công lao động kém phát triển, cơ cấu ngành đơn điệu, mới chỉ có một số ngành nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, sản xuất chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng, có tính chất tự cung, tự cấp.
o Bắt đầu từ thế kỷ 20, dưới sự đô hộ và thuộc địa hóa của thực dân Pháp, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu hình thành sự phân công xã hội rõ rệt, quá trình sản xuất không chỉ từng sản phẩm riêng biệt, mà việc sản xuất từng bộ phận của sản phẩm, từng thao tác trong chế biến sản phẩm thành những ngành công nghiệp riêng biệt, đặc biệt trong ngành khai khoáng và dệt may. Tuy nhiên, hàng hóa sản xuất ra chỉ phục vụ mục đích chủ yếu của thực dân Pháp – khai thác và bóc lột thuộc địa, các quyết định về tiêu thụ và giao thương hàng hóa đều nằm trong tay họ nên dù nền kinh tế sản xuất hàng hóa đơn giản đã xuất hiện ở Việt Nam bấy giờ, nhưng chưa mang tính chất thị trường. Trong giai đoạn xâm lược của đế quốc Mỹ, kinh tế thị trường chỉ đơn lẻ tồn tại ở đô thị lớn như Sài Gòn thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Miền Bắc Việt Nam hình thành nền kinh tế kế hoạch tập trung kéo dài đến cuối thế kỷ 20.
 Như vậy, trước tái thống nhất đất nước, nên kinh tế Việt Nam hầu như chưa xuất hiện hình thái kinh tế thị trường rõ nét.
Giại đoạn sau khi tái thống nhất đất nước:
o Sau năm 1975 do vừa trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ nền kinh tế của nưóc ta đã bị tàn phá nặng nề về cơ sở hạ tầng. Kinh tế của đất nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng nông nghiệp lại nghèo nàn lạc hậu. Hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày đi sau” đặc biệt là phương thức “hợp tác hoá, tập thể hoá” đã tạo nên sức ỳ và sự trì trệ lớn. Việc phân phối lao động theo khẩu hiệu “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” dẫn đến sự ỷ lại của người lao động mà không quan tâm đến năng suất lao động. Bên cạnh nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu là các nghành nghề hoạt động yếu kém, thiếu thốn về cơ sở vật chất, về nền tảng khoa học do đó không thể làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế, một hạn chế rõ nhất đó là sản phẩm được phân phối bằng tem phiếu.
o Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm, có năm còn bị giảm: Năm 1977 tăng 2,8%, năm 1978 tăng 2,3%, năm 1979 giảm 2%, năm 1980 giảm 1,4%, bình quân 1977-1980 chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân số, làm cho thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm 14%.
o Kết quả này do nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầm của các cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý xã hội” dẫn tới “chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước quá cao so với khả năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phân phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người, sức của; … rất bảo thủ, trì trệ trong việc chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của Trung ương, trong việc đánh giá và vận dụng những khả năng về nhiều mặt của đất nước…. kéo dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứng nhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương và ngành, và cũng không tập trung thích đáng những vấn đề mà Trung ương cần và phải quản lý… duy trì quá lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp, cản trở sản xuất và không phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo của những người lao động… chưa nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, thiếu những biện pháp có hiệu quả,” Hậu quả nghiêm trọng phải kể hai cuộc đổi tiền năm 1975 (do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thực hiện) và đổi tiền năm 1978 trên toàn quốc để thực thi “đánh tư sản mại bản”, làm cạn kiệt tiết kiệm vốn liếng của người dân và làm xáo trộn kinh tế trầm trọng.
o Chính vì vậy, giai đoạn 1975-1985 nền kinh tế của nước ta chậm phát triển. Những mâu thẫu nội tại từ nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải đổi mới kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng và thúc đẩy các yếu tố hàng hoá phát triển.
 10 năm đầu sau khi tái thống nhất, nền kinh tế kế hoạch tập trung của Việt Nam phải hứng chịu suy thoai nặng nề do sự hạn chế và non yếu trong hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội.
6.2. Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Sau 1986)
o Thời kỳ 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Các hình thức ngăn sông cấm chợ, chia cắt thị trường được xóa bỏ dần, kế hoạch kinh tế của nhà nước được thực hiện trên cơ sở hạch toán. Đặc biệt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động. Nền kinh tế dần dần được thị trường hóa. Song Đảng chủ trương và thực hiện kinh tế quốc doanh là chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế khác. Cơ chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dần dần giảm đi.
o Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo. Khoán 10 được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toàn quốc càng khuyến khích nông dân sản xuất lúa gạo. Hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng, nhiều hơn và đa dạng hơn. Xuất khẩu tăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm. Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn. Lạm phát được kiềm chế dần dần.
o Tháng 6 năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, tại đây một văn kiện quan trọng đã ra đời, đó là “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Cương lĩnh này sau đó liên tục được bổ sung và điều chỉnh trong các kỳ họp của Ban Chấp hành trung ương Đảng và Đại hội Đại biểu toàn quốc tiếp theo. Cương lĩnh này và các văn kiện có tính chất sửa đổi nó tuyên bố rằng nhiệm vụ trung tâm của xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” “gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện”. Các văn kiện này nêu phương hướng: “thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” và “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
o Nghị quyết 8 của Đảng chỉ rõ: “Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm phát huy tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn chặn hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường. Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luận, cơ chế, kế hoạnh, các công cụ đòn bẩy kinh tế và bằng các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước.”
o Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta đã đặt nền kinh tế thị trường vào hoàn cảnh của Việt Nam nhận thức so sánh giữa cái được và cái mất, nắm vững bản chất của kinh tế thị trường với đầy đủ các yếu tố và thuộc tính của nó. Cơ chế thị trường theo định hướng định hưóng xã hội chủ nghĩa hay cơ chế thị trường của chủ nghĩa xã hội có những đặc trưng sau
o Trước hết, trong kinh tế thị trường dưới chế độ chủ nghĩa xã hội, sở hữu quốc doanh và tập thể phải giữ vai trò chủ thể (định lượng) và chủ đạo (định tính).Đặc trưng này đã phân biệt kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
o Mặt khác, phải khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư nhân trong các nghành nghề. Nhà nước chỉ can thiệp khi có những biểu hiện tiêu cực. Chính vì vậy mà kinh tế thị trường ở nước ta phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
 Từ năm 1986 đến nay, kinh tế Việt Nam vận hành theo mô hình kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội.
III. TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
1. Tác động tích cực
o Nền kinh tế trở nên năng động và thích ứng cao với đòi hỏi của thị trường, đáp ứng được các nhu cầu có thể thanh toán được của xã hội một cách tự động mà không một bộ máy hoạch định nào có thể thay thế được;
o Huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội;
o Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém;
o Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh tế trong nước và quốc tế;
o Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn;
o Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ – kỹ thuật làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.
2. Tác động tiêu cực
o Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của kinh tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:
o Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách nghiêm trọng và lan rông; tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội, thương mại hoá các giá trị đạo đức và đời sống tinh thần;
o Kinh tế thị trường tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, dẫn đến phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng.
o Do theo đuổi lợi ích cá nhân tối đa, nên lợi ích chung của xã hội không được chăm lo, nhiều trường hợp các nhà kinh doanh có thể đưa vào sản xuất những sản phẩm đem lại tác hại cho xã hội và nhân loại như hàng giả, thuốc tây giả, ma tuý, văn hoá phẩm đồi truỵ…; để khắc phục tình trạng này cần phải có sự can thiệp tích cực của nhà nước.
o Sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường dẫn đến độc quyền, do vậy sẽ hạn chế nghiêm trọng các ưu điểm của kinh tế thị trường. Sự cạnh tranh không tổ chức dẫn đến mất cân đối vĩ mô, gây ra những hậu quả tiêu cực về xã hội như tình trạng thất nghiệp, lạm phát, phát triển kiểu chu kỳ.
o Kinh tế thị trường làm sản sinh và dẫn đến các cuộc chiến tranh kinh tế.
3. Giải pháp khả thi nhằm khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế thị trường
o Nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng 1 hệ thống thị trường đồng bộ gồm những thị trường bộ phận như: thị trường vốn, thị trường lao động…
o Các chủ thể kinh tế phải được tự do, bình đẳng trong hoạt động kinh tế.
o Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật.
o Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để định hướng cho sự vận động và phát triển của nền kinh tế.
o Nhà nước phải kết hợp nhiều hình thức phân phối theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, đó là phân phối theo lao động, phân phối theo tài sản và vốn, phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội để giảm khoảng cách giàu nghèo.
o Phải chú trọng vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, bởi nếu cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ làm cho giá thành sản phẩm cao, hiệu quả mua bán kém, do vậy không có khả năng cạnh tranh trên thị trường, sẽ khó thu hút đầu tư kinh tế từ nước ngoài.
o Tăng cường công tác kiểm tra giám sát để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, chống nạn tham nhũng, lãng phí cạnh tranh không lành mạnh, hàng lậu, hàng giả…).