PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Kinh tế quốc tế 3
1.1.1 Khoa học công nghệ 3

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1.2.1 Nguồn gốc hình thành 4
1.2.2 Các giai đoạn phát triển của Khoa học công nghệ ..…………..………. 4
1.2.3 Thành tựu 5

PHẦN 2: TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐẾN KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1 TÁC ĐỘNG TỚI KẾT CẤU NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1.1 Thay đổi kết cấu ngành …………………………………………………7
2.1.2 Thay đôi cơ cấu việc làm ……………………………………………… 9
2.1.3 Thay đổi hình thức tổ chức sản xuất và tổ chức sản xuất………………10
2.2 TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
2.2.1 Thay đổi trong quan hệ trao đổi quốc tế ………………………………11
2.2.3 Xu hướng toàn cầu hóa ……………………………………………… 15

PHẦN 3: VIỆT NAM ÁP DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
3.1 THỰC TRẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TÁC ĐỘNG TỚI KINH TẾ VIỆT NAM ………………………………………………………………16
3.2 BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC………………………………21
3.3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM………………………………………………………………… 26

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Kinh tế quốc tế
– Kinh tế quốc tế: bàn về việc phân phối, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên (động tĩnh) một cách hợp lý giữa các nước, các nền kinh tế qua con đường thương mại quốc tế, nhằm đảm bảo sự cân đối cung cầu về hàng hóa và dịch vụ trong phạm vi một nước cũng như trong tổng thể nền kinh tế thế giới.
– Kinh tế thế giới: là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên trái đất, có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với nhau thông qua sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng.
– Quan hệ kinh tế quốc tế: là quan hệ kinh tế giữa các nước hoặc các tổ chức kinh tế thế giới, được nghiên cứu dưới góc độ nền kinh tế thế giới. Các quan hệ kinh tế quốc tế gồm có:
+ Các quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hóa và dịch vụ
+ Các quan hệ về di chuyển quốc tế tư liệu sản xuất bao gồm vốn, sức lao động và khoa học công nghệ.
Theo đà phát triển của KH&CN, với nhu cầu của con người ngày càng đa dạng, các quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển về chiều rộng và chiều sâu. Trong thực tế còn bao gồm hợp tác và trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ và nhiêu hoạt động quốc tế khác. Từ đó tạo nên cốt lõi và đánh dấu trình độ phát triển ngày càng cao.

1.1.2 Khoa học – Công nghệ
– Công nghệ: là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người.
– Khoa học: là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh.

1.2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
1.2.1 Nguồn gốc hình thành
– Do đòi hỏi của cuộc sống và của sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người.
– Do sự bùng nổ dân số, sự vơi cạn tài nguyên thiên nhiên, do nhu cầu của chiến tranh…
– Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ nhất là tiền đề thúc đẩy cách mạng khoa học – kỹ thuật lần II và cách mạng công nghệ bùng nổ.

1.2.2 Các giai đoạn phát triển của Khoa học công nghệ
Cơ cấu sản xuất và trao đổi Quốc tế được biến đổi về chất theo các cuộc Cách mạng Công nghệ:
– Lần 1 (1820 – 1870): làm giao thông vận tải phát triển nhanh chóng, công nghiệp được mở rộng và bước đầu hình thành một thị trường thế giới rộng lớn.
– Lần 2 (1870 – 1913): gây ra những biến đổi trong các ngành điện lực, hóa chất, luyện kim. Những thay đổi cơ bản trong buôn bán quốc tế tăng cường quá trình đầu tư quốc tế, hình thành những quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng bền vững. Thời kỳ này cũng đánh dấu sự xuất hiện của nền kinh tế thế giới như một thực thể thống nhất.
– Lần 3 (1913 – 1950): làm xã hội phát triển nhanh chóng các ngành năng lượng hạt nhân, hóa dầu, công nghệ vũ trụ và khai thác đáy đại dương, tin học, công nghệ sinh học… làm gia tăng dòng đầu tư và buôn bán quốc tế, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thế giới về vật chất – kỹ thuật lên một tầm cao mới.
– Lần 4: hiện nay chúng ta đang thực hiện Cách mạng Công nghệ lần thứ tư, tập trung phát triển ngành vi điện tử, tin học, thông tin viễn thông và tự động hóa, năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học. Từ đó biến đổi cơ cấu kinh tế của các quốc gia, đưa xã hội loài người sang một nền văn minh mới – nền văn minh thứ ba.

1.2.3 Thành tựu
Những thành tựu chính của cuộc cách mạng khoa học công nghệ tập trung vào 3 lĩnh vực mũi nhọn sau đây:
Công nghệ thông tin
Thành tựu khoa học kỹ thuật về điện tử và tin học với các con chip vi xử lý, kỹ thuật laser tạo ra “trung tâm thần kinh” cho các hoạt động thu thập, xử lý thông tin, tạo ra các đột phá lớn trong công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin cho phép thực hiện các biện pháp thông tin đa dạng như: thông tin sợi quang, thông tin vi sóng, thông tin vệ tinh, thông tin di động… đã làm cho việc chuyển thông tin không những có dung lượng lớn, chất lượng tốt, diện phủ rộng, nhanh chóng, linh hoạt, an toàn, đáng tin cậy; mà còn thực hiện các dịch vụ truyền tin đa dạng phức tạp, đáp ứng mọi nhu cầu truyền tin của từng cá nhân như truyền tiếng nói, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, các dữ liệu, đồ họa, văn bản, bảng biểu… trong cùng một hệ thống mạng với tốc độ cực nhanh, mở ra nhiều khả năng mới cho thời đại.
VD: Hệ thống cáp quang internet cho phép truyền thông tin nhanh tới 1Gpbs, nhanh hơn hệ thống Internet ADSL rất nhiều; dịch vụ 3G…

Công nghệ vật liệu và năng lượng mới
Công nghệ vật liệu là công nghệ chế tạo ra các vật liệu thay cho vật liệu tự nhiên bằng các phương pháp khoa học, cho phép nghiên cứu, chế tạo và phát triển các loại vật liệu mới mang tính chiến lược gồm có vật liệu composite, gốm, vật liệu điện tử, vật liệu siêu dẫn, vật liệu năng lượng mới. Vật liệu được tạo ra theo công nghệ nano đã đưa đến những khả năng mới cho nhiều ngành, lĩnh vực như giao thông vận tải, xây dựng, hóa chất điện và điện tử, kỹ thuật trên biển, hàng không vũ trụ, y sinh học… bởi các khả năng siêu dẫn, siêu bền, siêu nhẹ và một số đặc tính quý khác của các loại vật liệu này. Công nghệ năng lượng mới với sự phát triển năng lượng nguyên tử an toàn, sạch, nhất là năng lượng mặt trời… không gây tổn hại cho môi trường sinh thái.
VD: pô-ly-me, vật liệu tổ hợp composite, gốm cao cấp (siêu bền, siêu cứng, siêu dẫn),…

Công nghệ sinh học
Trên cơ sở phát triển của sinh học phân tử, di truyền học phân tử, công nghệ sinh học bao gồm công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh và công nghệ enzyme… cho phép con người làm chủ và điều khiển được một số quá trình sinh học đối với các vật thể sống, đồng thời tạo ra các chế phẩm mới, các giống vật nuôi có những đặc tính tốt phục vụ cho lợi ích của con người.
VD: Tháng 3 năm 1997 cừu Đô ly sinh ra bằng phương pháp sinh sản vô tính; tháng 4 năm 2003 công bố “Bản đồ gen người”, tương lai sẽ chữa được những bệnh nan y; cuộc Cách mạng xanh trong nông nghiệp diễn ra vào những năm 60 và 70 của thế kỉ XX áp dụng những tiến bộ về giống cây trồng, phân bón, biện pháp kĩ thuật canh tác… đã giúp Ấn Độ năm nào đó thoát khỏi nạn đói, thiếu lương thực và trở thành nước sản xuất gạo lớn thứ hai thế giới sau TQ (niên vụ 2010 – 2011 đạt 99 triệu tấn) và là một trong 5 nước xuất khẩu gạo lớn nhất châu Á.

PHẦN 2: TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ ĐẾN KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1. TÁC ĐỘNG TỚI KẾT CẤU NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ
2.1.1. Thay đổi kết cấu ngành
– Tỉ trọng nông nghiệp, công nghiệp giảm, tỉ trọng dịch vụ tăng
Hiện nay, tỉ trọng nông nghiệp trong GDP ở các nước công nghiệp phát triển giảm mạnh, tỉ trọng của ngành công nghiệp có tăng chút ít ở một số nước, còn ở một số nước lại giảm xuống, tỉ trọng của ngành dịch vụ (bao gồm ngành giao thông vận tải, thông tin liên lạc, thương nghiệp bán buôn và bán lẻ, các thiết chế tài chính – tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, các dịch vụ sinh hoạt, giao dịch và văn hóa – xã hội) tăng lên mạnh, bình quân chiếm 70-80% GDP. Ví dụ, ở Mĩ, tỉ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP năm 2011 lần lượt là 1.2%, 22.1% và 76.7%; Anh: 0.9%, 10.3%, 88.7%; Nhật Bản 1.4%, 24%, 74.6%. Cho tới nay, sự thay đổi to lớn của kết cấu ngành đã gần đến hồi chót và người ta dự đoán rằng, tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP còn tiếp tục giảm xuống.

– Thay đổi trong nội bộ ngành
Trong nội bộ từng ngành cũng có nhiều sự thay đổi, đặc biệt là trong công nghiệp dịch vụ. Trong công nghiệp đã chuyển từ loại hình cơ cấu tiêu hao nhiều năng lượng, lao động, tài nguyên sang loại hình cơ cấu có hàm lượng khoa học, tri thức và công nghệ cao, tốc độ của những ngành này đã vượt tốc độ phát triển bình quân của sản phẩm công nghiệp. Tuy nhiên, sự thay đổi đáng chú ý nhất hiện nay là tỷ trọng ngành công nghệ cao lấy công nghệ thông tin làm chính trong nền kinh tế sẽ nhanh chóng tăng lên. Tỷ trọng của các ngành có công nghệ cao ở Mỹ trong tổng sản phẩm giá trị xã hội đã chiếm trên 50%, trong đó ngành thông tin chiếm trên 30% vượt ngành ô tô – một trong những ngành trụ cột của Mỹ để trở thành ngành lớn nhất. Ở Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp… tỷ trọng của ngành công nghệ cao trong GDP cũng đang vượt hơn 30%. Chỉ riêng năm 1996 kim ngạch ngoại thương toàn cầu của sản phẩm công nghệ thông tin bao gồm vi tính, thiết bị điện tín, linh kiện, phần mềm… đã vượt quá 700 tỷ USD chiếm trên 10% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu. Điều đó cho thấy trong nền kinh tế thế giới hiện nay ngành công nghệ thông tin đã thay ngành truyền thống, trở thành ngành đóng vai trò chủ đạo. Ngành dịch vụ ngày càng mở rộng về số lượng, quy mô, tốc độ, trở thành ngành có số người làm việc và giá trị sản xuất ngày càng lớn.
Đa dạng hóa ngành dịch vụ trong nền kinh tế phát triển hiện nay có thể quy tụ thành một số bộ phận lớn, có chức năng tương đối giống nhau nhưng với cơ cấu hoàn toàn khác nhau là giao thông vận tải, thông tin liên lạc, thương nghiệp bán buôn và bán lẻ, tài chính-tín dụng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh điện tử (E-business), dịch vụ sản xuất và lưu thông, dịch vụ sinh hoạt, sửa chữa và bảo dưỡng ô tô vận tải, hoạt động văn hóa, nghệ thuật và một số dịch vụ thuộc lĩnh vực xã hội như giáo dục, y tế, phục vụ xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân.
Năm 1998: E.Business giữa các doanh nghiệp trên Internet đạt 43 tỉ USD; 2003: 1300 tỉ USD, tương đương 9% tổng doanh thu giữa các doanh nghiệp với nhau. Đối với riêng Mĩ năm 2010, con số này là 164.6 tỉ USD, chiếm 4.2% tổng doanh thu bán lẻ.
Sự thay đổi cơ cấu giữa các ngành cùng với việc mở rộng ngành nghề, hình thành những ngành mới, sự phân công và hợp tác các ngành nghề trở nên sâu sắc, ranh giới giữa các ngành ngày càng lu mờ, sự phụ thuộc ràng buộc lẫn nhau giữa chúng càng lớn, tính xã hội hóa của nền sản xuất xã hội ngày càng được nâng cao.

2.1.2. Thay đổi cơ cấu việc làm
Cùng với sự thay đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu việc làm cũng có sự thay đổi mới. Đội ngũ người lao động – lực lượng sản xuất cơ bản biến đổi cả về trình độ, cơ cấu và cả các yếu tố cấu thành giá trị hàng hóa sức lao động. Cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tiến bộ, các yếu tố tái sản xuất sức lao động đã ngày càng đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của quá trình tái sản xuất xã hội. Trước kia, công nhân được chia thành “công nhân cổ xanh” lao động bằng chân tay và “công nhân cổ trắng” làm việc trong văn phòng. Trong các thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, tỷ lệ “công nhân cổ xanh” (blue-collar) không ngừng giảm xuống và tỷ lệ “công nhân cổ trắng” (white-collar) không ngừng tăng lên trong tổng số công nhân. Số công nhân cổ xanh làm việc trong ngành công nghiệp của Mỹ đã từ 30% lực lượng lao động những năm 1960 giảm xuống còn 20% những năm 1980 đến nay giảm xuống còn không tới 17% và trong 10 năm đầu thế kỷ XXI, theo đánh giá của nhà quản lý nổi tiếng người Mỹ Beterdrueker, con số này chỉ còn là 12%. Lao động dịch vụ chiếm trên 70%, ở lĩnh vc này lao động có tri thức, có tay nghề cao chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, đội ngũ công nhân cổ trắng ngày càng nhiều lên giữ vị trí hàng đầu trong lực lượng lao động xã hội. Ở Mỹ trong những năm gần đây, trong hàng triệu người có việc làm mới, công nhân trí thức chiếm 90% và họ sẽ trở thành đội quân công nhân viên chức lớn nhất. Lao động của những công nhân trí thức này đang chiếm lĩnh các lĩnh vực sản xuất, thương mại, đầu tư, chính trị, quân sự, nghiên cứu khoa học… công cụ mà họ sử dụng là máy tính và các thiết bị thông tin liên quan, lao động của họ thông qua mạng lưới để thu thập, phân tích, xử lý, tổng hợp, chuyển nhượng và truyền đạt thông tin. Những người này có trình độ giáo dục và văn hóa ngày càng cao hơn, có kiến thức khoa hoc kỹ thuật, kinh tế, quản lý, và các kiến thưc khác ngày càng phong phú hơn. Đương nhiên, sau này ở một số ngành đặc biệt là ngành phục vụ, vẫn còn có một số công việc đòi hỏi tri thức và kỹ năng tương đối thấp, nhưng số người không phải là công nhân trí thức dần dần giảm đi. Sự chênh lệnh về thu nhập tiền lương của 2 loại công nhân này đang mở rộng, vì rằng giới chủ sẵn sàng trả lương tương đối cao để thuê công nhân có trình độ kiến thức cao hơn. Tại Mỹ, từ năm 1973 đến 1993, thu nhập của công nhân cổ xanh giảm 15% đến 19%, thu nhập của công nhân cổ trắng tăng 21%.
Nền sản xuất xã hội bước dần sang nến sản xuất trí tuệ, đòi hỏi người lao động càng phải có trình độ khoa học, trình độ công nghệ, tay nghề cao, làm tỷ lệ công nhân cổ trắng ngày càng tăng.

2.1.3. Thay đổi trong hình thức sản xuất và tổ chức sản xuất
Về hình thức tổ chức sản xuất: Xuất hiện hình thức mới là các khu công nghệ cao mà ở đó sản xuất và khoa học kết hợp làm một. Ðó là hình thức sản xuất mới của nền kinh tế tri thức, của xã hội thông tin. Các khu công nghệ cao hay còn gọi là các “công viên công nghệ cao” (technology park) đang phát triển rất mạnh. Ðầu tiên chỉ là tự phát, như sự ra đời thung lũng Silicon. Xuất phát điểm ra đời khu công nghệ cao này là đại học Stanford và một số trường đại học khác. Vào những năm 50, nhu cầu mở rộng quy mô đào tạo và tăng cường công tác nghiên cứu của trường đại học Stanford khiến nhà trường rơi vào tình trạng bí về tài chính. Ðể giải quyết khó khăn này nhà trường quyết định cho thuê 80 ha đất của nhà trường (luật của Mỹ không cho phép bán đất chỉ được phép cho thuê). Thời hạn là 99 năm với một ý đồ rất rõ ràng, chỉ cho phép vào đây những công ty nào chấp nhận kinh doanh và sản xuất những sản phẩm mà nhà trường nghiên cứu ra. Khác với những khu vực sản xuất truyền thống, thung lũng Silicon là một khu vực sản xuất đẹp và sạch như công viên. Rất đẹp, rất sạch và hiệu quả rất cao. Ðây là nơi cả ba quá trình nghiên cứu khoa học là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai, sản xuất hàng loạt nhập lại làm một. Những sản phẩm từ đây được sử dụng trên toàn thế giới.
Từ một khu công nghệ cao hình thành tự phát như vậy đến nay trên thế giới đã hình thành cả một xu hướng rất mạnh xây dựng các khu công nghệ cao. Bởi đó chính là hình thức tổ chức sản xuất của tương lai, là nơi khoa học trực tiếp trở thành lực lượng sản xuất, trực tiếp làm ra sản phẩm. Trung Quốc cũng như Ấn Ðộ đều rất chú trọng đầu tư xây dựng các khu công nghệ cao. Việt Nam cũng đã có khu công nghệ cao Hòa Lạc tại huyện Thạch Thất, Hà Nội và Khu công nghệ cao Sài Gòn ở quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm lại khu công nghệ cao chính là hình thức dẫn đầu của tổ chức sản xuất mới. Nó là nơi sản sinh ra các công nghệ cao và phát triển các ngành công nghiệp dựa trên công nghiệp cao. Nó đưa ra công nghệ cao để cải tạo các lĩnh vực khác đồng thời nó mở ra các ngành công nghiệp mơí dựa vào công nghệ cao. Ðó cũng chính là hoạt động khoa học trong tương lai. Nhất thể hoá khoa học, công nghệ và sản xuất. Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp cho ra sản phẩm. Các ngành dịch vụ cơ bản từ đó cũng được cải tạo dần, trở nên mang tính công nghệ cao.

Về tổ chức sản xuất: Kinh tế công nghiệp quy định ba khu vực sản xuất là nông nghịêp, dịch vụ và công nghiệp đến nay quy định này tỏ ra không còn phù hợp, cụ thể là có một số ngành dựa vào tri thức không thể xếp vào một khu vực nào. Ví dụ ngành công nghiệp thông tin chỉ đưa vào một khu vực là công nghịêp hay dịch vụ đều không ổn, bởi nó cao hơn cả công nghiệp lẫn dịch vụ do đó nhiều người cho rằng đã xuất hiện một khu vực sản xuất thứ tư. Ðối với ngành công nghiệp thông tin thì hiện nay phần sản xuất được xếp vào khu vực công nghiệp còn phần mềm như các dịch vụ, viễn thông, ngân hàng thì được xếp sang phần dịch vụ.

2.2 TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
2.2.1 Thay đổi trong quan hệ trao đổi quốc tế
Hiện nay, khi khoa học công nghệ phát triển với tốc độ nhanh, trở thành yếu tố quan trọng cuả lực lượng sản xuất, sự chênh lệch về trình độ khoa học công nghệ giữa các quốc gia ngày càng lớn về: nguồn vốn, trình độ kĩ thuật, bí quyết công nghệ, nguồn lực, trình độ quản lí,… thì sự trao đổi quốc tế về KH&CN là tất yếu khách quan và diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn, quy mô càng lớn hơn.
Đối tượng tham gia vào việc trao đổi quốc tế được mở rộng rất nhiều. Do vậy dẫn đến nhu cầu tất yếu về hợp tác quốc tế về kinh tế và KH&CN: chuyên môn hóa với hợp tác hóa quốc tế trong sản xuất và hợp tác với trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ.

– Chuyên môn hóa và hợp tác hóa quốc tế trong sản xuất (phân công lao động quốc tế)
KH&CN phát triển mạnh kéo theo sự chênh lệch lớn về KH&CN, cùng với sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhiên đòi hỏi mỗi quốc gia phải chọn tập trung vào 1 lĩnh vực , ngành mà bản thân họ có điều kiện sản xuất thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Do đó, kéo theo là sự thay đổi trong phân công lao động quốc tế. Một quốc gia để sản xuất ra một sản phẩm, thay vì sản xuất tất cả các bộ phận, link kiện của sản phẩm đó thì có thể chỉ tập trung vào một thứ và nhập khẩu những phần còn lại từ các quốc gia khác. Phân công lao động quốc tế từ đó mà được hình thành một cách ngẫu nhiên và sự phân công này diễn ra theo hướng chuyên môn hóa.
VD1: Việc sản xuất máy bay đòi hỏi sự chuyên môn hóa và hợp tác hóa rất cao. Việc sản xuất Dreamliner 787 đã được ngợi ca như là hình mẫu của việc thuê làm bên ngoài. Một trang web chỉ liệt kê những nhà cung cấp lớn của những bộ phận của chiếc máy bay này mà đã gồm tới 397 đường liên kết.

VD2: Tại TopCoder, một công ty phần mềm có trụ sở tại Connecticut, một phần mềm sản xuất ra là sự tham gia của hàng chục bộ phận riêng rẽ. TopCoder chia những dự án công nghệ của nó thành những phần nhỏ và chào mời nó cho những nhà phát triển phần mềm tự do trên toàn thế giới như là một hình thức tạo cạnh tranh. Sự siêu chuyên môn hóa này tỏ ra rất có lợi. TopCoder thường cung cấp cho khách hàng của mình những sản phẩm có chất lượng tương đương với phương thức sản xuất cũ nhưng chỉ với 25% chi phí cũ.
Việc chuyên môn hóa theo chi tiết sản phẩm hay theo quy trình công nghệ đòi hỏi sự tương đồng về trình độ công nghệ. Việc chuyên môn hóa có tính chất chiều sâu và phát huy thế mạnh công nghệ của từng quốc gia.
Việc chuyên môn hóa thường gắn liền luôn với hợp tác hóa vì đây là 2 mặt của 1 vấn đề: việc chuyên môn hóa đòi hỏi việc hợp tác hóa và hợp tác hóa phỉa trên cơ sở chuyên môn hóa.
Quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa trong sản xuất gắn liền với sự phát triển của cách mạng KH&CN và quá trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia. Đặc biệt sự ra đời của các khối liên kết kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của việc chuyên môn hóa và hợp tác hóa quốc tế trong lĩnh vực sản xuất.
VD: Airbus A380 một trong những sản phẩm hợp tác sản xuất của các thành viên Liên minh châu Âu. Phần lớn cấu trúc của A380 được chế tạo tại Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Vương quốc Anh.

– Hợp tác và trao đổi quốc tế về KH&CN
Hợp tác quốc tế về KH&CN là loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành nghiên cứu, sang chế, thiết kế, thử nghiệm, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin về KH&CN, áp dụng các thành tựu KH&CN vào thực tiễn sản xuất.
+ Hợp tác nghiên cứu KH&CN
Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, xuất phát từ lợi ích từng quốc gia nằm trong lợi ích chung của nhân loại, quá trình hợp tác nghiên cứu KH&CN giữa các nước ngày càng phát triển về quy mô và hình thức nhằm: giải quyết có hiệu quả các chương trình nghiên cứu chung, nâng cao mức sống của nhân loại, để tránh trùng lặp trong đầu tư nghiên cứu, tiết kiệm thời gian và tập trung các nguồn lực (cả vật chất và trí tuệ) để đạt tới hiệu quả kinh tế cao.
VD1: Vinamilk hợp tác nghiên cứu với tập đoàn Thụy Sĩ, Đan Mạch về ứng dụng khoa học dinh dưỡng. thông qua chiến lược áp dụng nghiên cứu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng đặc thù của người VN , Vinamilk phát triển ra những dòng sản phẩm tối ưu nhất cho người tiêu dùng VN, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nội địa và vươn tới thị trường quốc tế.
VD2: Sarec – Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam-Thụy Điển 2004 -2007 về nhiều lĩnh vực công nghệ nhằm phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.

+ Hợp tác đào tạo và trao đổi chuyên gia
Hợp tác đào tạo và trao đổi chuyên gia được thực hiện rất thường xuyên và đa dạng, qua đó tri thức tiến bộ được trao đổi từ nước có trình độ cao hơn đến nước có trình độ thấp hơn ở từng lĩnh vực KH&CN khác nhau.
VD: Gửi người đi đào tạo tại các nước có trình độ cao hơn nhằm tiếp cận tri thức mới một cách cơ bản, tạo nguồn nhân lực mới đáp ứng nhu cầu lao động trong tương lai.

Sự hợp tác quốc tế về KH&CN là đòi hỏi khách quan trong thời đại ngày nay vì KH&CN ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và những tài sản của nó phải trở thành tài sản chung của nhân loại. Thêm nữa, không một quốc gia nào có khả năng tự giải quyêt mọi vấn đề KH&CN mà thực tiễn đặt ra.

2.2.2 Xu hướng toàn cầu hóa
Xu hướng phát triển kinh tế mỗi nước còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố song xu thế kinh tế toàn cầu thì đã rõ, đó là xu thế toàn cầu hoá. Cụ thể là thương mại quốc tế hiện đã tăng nhanh nhiều lần so với thu nhập do các nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin, hợp tác, sử dụng lao động…
Toàn cầu hóa là xu thế chung của kinh tế thế giới, tuy nhiên, nhờ có những tiến bộ về khoa học công nghệ mà tiến trình toàn cầu hóa ngày càng diễn ra với tốc độ cao. Điều này được thể hiện qua quá trình hợp tác, trao đổi quốc tế giữa các quốc gia, khu vực về KH&CN và công tác nghiên cứu KH&CN như đã nói ở trên. Ngoài ra, việc gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ như Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại cũng là một ví dụ minh chứng cho xu thế này. Các dữ liệu, thông tin về tất cả các lĩnh vực bao gồm cả kinh tế không còn là của riêng một quốc gia, khu vực hay tổ chức, cá nhân nào. Trong xu thế toàn cầu hóa, những biến động kinh tế ở một quốc gia có thể gây ra những biến động nhất định cho nền kinh tế thế giới nhưng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, thông tin về những biến động đó có thể được truyền đi nhanh hơn, do đó, những hệ quả kéo theo cũng sẽ xảy ra nhanh hơn.

Ngoài những tác động tích cực tới KTQT thì KHCN còn có một số hệ quả tiêu cực về mặt xã hội, môi trường, văn hóa như làm gia tăng khoảng cách trình độ phát triển giữa các quốc gia, khả năng cạnh tranh giũa các nước phát triển, đang phát triển và kém phát triển, làm sâu sắc thêm phân hóa giàu nghèo trong xã hội, gây ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội. Để tránh hoặc hạn chế những hệ quả xấu này thì mỗi quốc gia cần phải có chiến lược phát triển khoa học công nghệ đúng đắn, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước.

PHẦN 3: VIỆT NAM ÁP DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ

3.1 THỰC TRẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TÁC ĐỘNG TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
3.1.1 Những thành tựu đạt được
Xã hội càng phát triển càng chứng minh một điều rằng: Khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò ngày càng sâu sắc, tác động lớn đến nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia. Những năm gần đây, thành quả của KH&CN, đặc biệt là sự đổi mới công nghệ đã đem đến cho kinh tế, xã hội (KTXH) Việt Nam một diện mạo mới.

– Tăng khoảng 5 lần thu nhập bình quân đầu người
Theo phân tích gần đây của Ngân hàng thế giới ở 38 quốc gia và khu vực, tiến bộ công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển, hơn 30% ở các nước đang phát triển. Tại Hàn Quốc, đột phá trong KH&CN giúp KTXH nước này tăng trưởng mạnh, mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao từ 1.040 USD (1977) lên 3.360 USD sau 10 năm. Đầu tư cho KH&CN của nước này tăng nhanh từ 378 triệu USD lên 5 tỷ USD, tăng 13 lần. Với Trung Quốc, đầu tư cho KH&CN tăng mạnh từ 0,6% GDP (2001) lên 1,43% GDP (2007) đã tạo đòn bẩy đưa GDP bình quân đầu người tăng từ 1.047 USD lên 2.604 USD.
Theo tài liệu của TS Cù Chí Lợi, Viện Kinh tế Việt Nam (Viện Khoa học – Xã hội Việt Nam): Ở nước ta, trong thời kỳ 1998 – 2002, tỷ trọng đóng góp của yếu tố KH&CN vào tăng trưởng GDP chiếm gần 23%, kéo mức thu nhập bình quân đầu người từ vài trăm USD đạt ngưỡng 1.000 USD. Trong khi dân số không ngừng tăng (từ hơn 50 triệu người năm 1979 lên hơn 85 triệu người năm 2009), diện tích đất canh tác bị thu hẹp nhưng nhờ áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, ngành nông nghiệp vẫn đóng góp hơn 65% vào tăng trưởng kinh tế nước nhà.

– Đưa kim ngạch xuất khẩu tăng hàng chục lần
Nhiều năm gần đây, những mặt hàng như: lúa gạo, thủy sản, hạt tiêu, cà phê, cao su… luôn đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn cho Việt Nam. Có kết quả này là nhờ những đóng góp quan trọng của hoạt động KH&CN. Hàng nghìn giống, quy trình sản xuất mới từ phòng thí nghiệm đã đến với người dân, được ứng dụng rộng rãi, đã và đang trở thành đòn bẩy thúc đẩy phát triển KTXH.
Trong nông nghiệp, KH&CN đóng vai trò lớn trong lai tạo, nhân giống cây trồng mới, tăng năng suất thay thế giống nhập ngoại. Nhiều công nghệ mới được ứng dụng làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tăng giá trị sản xuất, đưa nước ta vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, cao su. Đến nay, hơn 170 giống lúa được công nhận, trong đó có nhiều giống lúa lai tốt như VL20, TH3-3, TH304, HY83, HYT92, HYT100. 90% diện tích đất được trồng bằng các giống lúa cải tiến. Năng suất lúa bình quân năm 2007 đạt 49,5 tạ/ha, gấp 2,4 lần năm 1980 và Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực triền miên đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới.
Trong thủy sản, các kết quả nghiên cứu về sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến thủy sản đã đạt trình độ tương đương của thế giới và khu vực; nâng kim ngạch xuất khẩu lên 4,4 tỷ USD (2008), gấp 22 lần năm 1990. Các mặt hàng thủy sản chế biến xuất khẩu của Việt Nam bảo đảm yêu cầu về chất lượng thị trường Nhật Bản, EU và Mỹ.
Về y tế, KH&CN đã nâng trình độ y học của nước ta lên ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới. Đến nay, Việt Nam đã chủ động sản xuất được 9/10 loại vắc-xin phục vụ tiêm chủng mở rộng, giảm tỷ lệ mắc và tử vong của nhiều bệnh như bại liệt, viêm não… Các nhà khoa học cũng làm chủ nhiều quy trình chẩn đoán, điều trị hiệu quả nhiều bệnh mới phát sinh, nguy hiểm như SARS, cúm A/H5N1. Nhiều công nghệ kỹ thuật cao (xử lý tế bào gốc, tạo da để chữa bỏng…), phác đồ điều trị tiên tiến đã được áp dụng trong chuyên khoa tim mạch, sản, ngoại khoa.
Trong công nghiệp, KH&CN giúp cải tiến, đổi mới công nghệ của các ngành, lĩnh vực và đang chứng tỏ hiệu quả trong thời gian qua. Việt Nam đã sản xuất được nhiều thiết bị cơ khí chính xác, siêu trường, siêu trọng; làm chủ công nghệ đóng tàu trọng tải lớn… Từ kết quả nghiên cứu của một số chương trình KH&CN trọng điểm, Việt Nam đã thiết kế, chế tạo thành công máy biến áp 220kV – 250MVA với giá thành thấp hơn giá nhập khẩu (khoảng 2 triệu USD so với giá nhập khẩu 2,4 triệu USD).
Dù còn nhiều khó khăn nhưng không thể phủ nhận một thực tế rằng, KH&CN đã và đang đóng góp thiết thực cho sự phát triển KTXH, xứng đáng là nền tảng cho CNH, HĐH. Đóng góp của KH&CN đã kéo thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam từ vài trăm USD đến ngưỡng 1.000 USD.

– Giúp việc tiếp thu và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài.
Nhờ đó, trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn.

– Giải quyết được một số bất cập trong thời kì kinh tế phát triển:
Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt nam nói riêng, đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp (do nhiều nguyên nhân ), dân số ngày càng phát triển, vấn đề an ninh lương thực là một vấn đề hết sức chú trọng trong sự phát triển xã hội. Để đối diện với những thực trạng đã nêu, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp là một giải pháp hết sức cần thiết như: Phân bón sinh học, nuôi cấy mô, sự lên men, chuyển đổi gen…
Trái đất đang dần nóng lên, trong đó các loại khí Oxit Cacbon (CO2), khí Mê tan (CH4), khí Oxit Nitơ (N2O) đã góp phần lớn làm tăng hiệu ứng nhà kính làm biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học nông nghiệp đã phân tích: Khi canh tác theo lối truyền thống, sử dụng các giống cây trồng địa phương, cày bừa, phun xịt thuốc trừ sâu, sử dụng nhiên liệu, thải ra nhiều khí CO2, CH4 và N2O trong không khí góp phần tạo hiệu ứng nhà kính, làm tăng nhiệt độ không khí, làm băng tan, nước biển dâng cao, dẫn đến đất đai thu hẹp, tác động hạn chế đến phát triển nông nghiệp.
Khi ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp như: chuyển gen kháng sâu hại vào cây trồng sẽ hạn chế quá trình phun xịt thuốc sâu, hạn chế sử dụng nhiên liệu, hạn chế một phần thải CO2 vào không khí. Sử dụng phân bón sinh học sẽ hạn chế việc bón nhiều đạm Nitrate sẽ hạn chế được lượng khí N2O trong không khí. Chuyển gen kháng thuốc trừ cỏ vào cây trồng sẽ hạn chế quá trình làm cỏ, hạn chế xới xáo sẽ cô lập được lượng khí CO2 trong đất, hạn chế xói mòn, giảm chi phí đầu vào và tăng hiệu quả kinh tế. Chấm dứt việc đốt bỏ rơm rạ sẽ giảm thiểu được lượng khí Mê tan (CH4) vào không khí. Thay vì đốt rơm rạ có thể sử dụng nấm Trichoderma vào việc ủ rơm rạ theo qui trình sẽ tạo một lượng phân hữu cơ sinh học sử dụng tốt cho nông nghiệp. Chuyển đổi sản xuất một số giống lúa nước địa phương bằng các giống lúa lai có khả năng kháng sâu bệnh hại cao, cho năng suất và chất lượng tốt, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, giảm diện tích lúa nước sẽ hạn chế lượng khí (CH4) trong không khí.
Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí – chế tạo máy, đã góp phần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế.

3.1.2 Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
3.1.2.1 Những yếu kém:
– Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu
Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh vực như bưu chính – viễn thông, dầu khí, hàng điện tử tiêu dùng, sản xuất điện, xi măng, nhìn chung trình độ công nghệ của các ngành sản xuất nước ta hiện lạc hậu khoảng 2 – 3 thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực. Tình trạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

– Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính
Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Công tác đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế.

– Thị trường KH&CN chậm phát triển
Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ.

3.1.2.2 Nguyên nhân chủ yếu:
– Về nguồn lực con người.
Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các “tổng công trình sư”, đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao. Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý.
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta còn có khoảng cách rất lớn về tiềm lực và kết quả hoạt động KH&CN: tỷ lệ cán bộ nghiên cứu KH&CN trong dân số và mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo đầu người thấp; các kết quả nghiên cứu – phát triển theo chuẩn mực quốc tế còn rất ít.

– Việc đầu tư cho nghiên cứu Khoa học – Công nghệ, cũng như cho giáo dục còn thấp.
Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp. Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành.
Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vực KH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN cũng như sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

– Sự thiếu hụt một khuôn khổ pháp lý phù hợp cho việc chuyển giao, mua bán và ứng dụng các thành quả khoa học – công nghệ tiên tiến trên thế giới.

3.2 BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
3.2.1 Bối cảnh quốc tế
– Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ
Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin – truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v…, xã hội loài người đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu. Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn. Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.
Thời gian đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn. Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợi dụng các công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng. Với tiềm lực hùng mạnh về tài chính và KH&CN, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ và chi phối thị trường các công nghệ tiên tiến.
Để thích ứng với bối cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ thân môi trường; đẩy mạnh chuyển giao những công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, gây ô nhiễm cho các nước đang phát triển. Nhiều nước đang phát triển dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăng mức đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nhất là một số hướng công nghệ cao chọn lọc; tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông; nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và thu hẹp khoảng cách phát triển.

– Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng. Đây vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo vệ lợi ích quốc gia.
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những yêu cầu về tăng năng suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, các thành tựu to lớn của công nghệ thông tin – truyền thông, xu hướng phổ cập Internet, phát triển thương mại điện tử, kinh doanh điện tử, ngân hàng điện tử, Chính phủ điện tử, v.v… đang tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia và từng doanh nghiệp.
Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin – viễn thông, điều chỉnh các quy định về pháp lý, v.v… thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế là điều khó tránh khỏi.

3.2.2 Bối cảnh trong nước
Sau hơn 15 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, làm nền tảng cho giai đoạn phát triển mới: nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, liên tục; tình hình chính trị, xã hội ổn định; xu thế dân chủ hoá, xã hội hoá ngày càng mở rộng; đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp tác quốc tế được cải thiện.

Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định con đường đổi mới theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết thực hiện các thoả thuận trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, tích cực chuẩn bị tham gia WTO; tăng cường đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích khu vực dân doanh, hỗ trợ mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ; đẩy mạnh cải cách hành chính, v.v…

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 của nước ta đã xác định mục tiêu phát triển tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.

Trong bối cảnh đó, KH&CN có nhiệm vụ cung cấp kịp thời luận cứ khoa học cho các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước; đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả và sức khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010.

3.2.3 Cơ hội và thách thức:
– Cơ hội
Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển KH&CN, Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho CNH, HĐH đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức khoa học, công nghệ, các nguồn lực và kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên tiến của nước ngoài để nhanh chóng tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, nước ta có thể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình CNH, HĐH và khoảng cách phát triển kinh tế so với các nước đi trước. Với tiềm năng trí tuệ dồi dào, nếu có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đúng đắn, nước ta có thể sớm đi vào một số lĩnh vực của kinh tế tri thức.
Quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền đề mới cho sự phát triển KH&CN của nước ta trong thời gian tới. Nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian qua là điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư cho phát triển KH&CN, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng thành tựu KH&CN trong nền kinh tế, nhất là trước sức ép về cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.

– Thách thức
Trong bối cảnh phát triển năng động và khó dự báo cả về KH&CN và kinh tế của thế giới hiện đại, khả năng nắm bắt thời cơ và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài tuỳ thuộc nhiều vào trình độ và năng lực KH&CN của quốc gia. Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nâng cao nhanh chóng năng lực KH&CN để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn, trong điều kiện nước ta còn nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và KH&CN còn có khoảng cách khá xa so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực.
Trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ dần nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo. Nước ta nếu không sớm chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng lao động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài.
Trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và KH&CN, nước ta đang đứng trước những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v… phù hợp với thông lệ quốc tế. Tình trạng này nếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Trước những cơ hội và thách thức trên đây, nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu kinh tế và KH&CN ngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồn công nghệ nhập là khó tránh khỏi.

3.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
* Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
Đổi mới cơ chế quản lý KH&CN hiện nay theo hướng hình thành cơ chế quản lý mới phù hợp với cơ chế thị trường định hướng XHCN, với đặc thù của hoạt động KH&CN và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; tách biệt về quản lý giữa khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong hệ thống KH&CN để có cơ chế quản lý phù hợp với mỗi khu vực; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân hoạt động KH&CN.

* Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ
+ Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ
Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ:
– Quán triệt đến mọi cấp, mọi ngành quan điểm đội ngũ trí thức, KH&CN là tài sản quý của quốc gia và là nguồn lực góp phần quan trọng quyết định sự thành công của quá trình CNH, HĐH đất nước. Đội ngũ này bao gồm các cán bộ KH&CN trong các tổ chức nghiên cứu – phát triển, các trường đại học, các cán bộ tham gia hoạt động KH&CN trong các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp.
– Các ngành, các cấp cần quan tâm đầu tư, tạo những điều kiện thuận lợi nhằm phát huy cao nhất tiềm năng sáng tạo của đội ngũ này trong công cuộc CNH, HĐH đất nước.
Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ nhằm giải phóng tiềm năng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ:
– Từng bước chuyển chế độ biên chế sang chế độ hợp đồng lao động đối với cán bộ KH&CN, tạo điều kiện cho việc lưu chuyển cán bộ, hình thành thị trường lao động trong hoạt động KH&CN.
– Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự đối với các tổ chức KH&CN trong việc quyết định tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho thôi việc, xếp lương, khen thưởng và các chế độ đãi ngộ khác đối với cán bộ, nhân viên.
Xây dựng các chính sách tạo động lực vật chất và tinh thần mạnh mẽ cho các cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, trọng dụng và tôn vinh nhân tài khoa học và công nghệ:
– Phát huy tinh thần yêu nước, lý tưởng XHCN, hoài bão và lòng say mê khoa học, tinh thần hợp tác nghiên cứu trong đội ngũ cán bộ KH&CN.
– Thực hiện cơ chế cạnh tranh lành mạnh, xoá bỏ dần chế độ phân phối bình quân, thực thi chế độ đãi ngộ tương xứng với cống hiến của các nhà KH&CN; không giới hạn mức thu nhập đối với cán bộ KH&CN, miễn hoặc giảm thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động KH&CN. Bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ nhằm khích lệ sáng tạo và đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng rộng rãi.
– Ban hành chính sách khen thưởng đối với cá nhân có thành tích KH&CN có giá trị khoa học và thực tiễn cao; chính sách khuyến khích cán bộ KH&CN làm việc tại địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; chính sách sử dụng cán bộ KH&CN đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn khả năng chuyên môn, sức khỏe và tâm huyết với nghề nghiệp.
Đổi mới chính sách đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ:
– Đẩy mạnh việc tuyển chọn và gửi học sinh, sinh viên, cán bộ KH&CN đi đào tạo một cách đồng bộ ở các nước có trình độ KH&CN tiên tiến, trước mắt trong một số lĩnh vực KH&CN trọng điểm quốc gia. Phối hợp chặt chẽ giữa việc đào tạo với cơ quan sử dụng cán bộ KH&CN.
– Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, các nhà bác học, các tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề; hình thành các tập thể KH&CN mạnh, đủ sức giải quyết những nhiệm vụ KH&CN quan trọng do sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh đặt ra.
– Điều chỉnh cơ cấu đào tạo theo hướng tăng đào tạo công nhân kỹ thuật (đặc biệt công nhân có tay nghề cao) cho các ngành đang thu hút đầu tư nước ngoài và những ngành kinh tế – xã hội trọng điểm.
– Huy động tối đa và hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nhân lực KH&CN, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
– Ưu tiên sử dụng các nguồn tài chính từ hợp tác, tài trợ quốc tế kể cả nguồn vốn ODA cho đào tạo nhân lực KH&CN, đặc biệt trong các lĩnh vực KH&CN trọng điểm.
– Khuyến khích mở các trường đại học, viện nghiên cứu công nghệ quốc tế hoặc khu vực tại Việt Nam. Thu hút các viện nghiên cứu, trường đại học có uy tín của nước ngoài liên kết hoặc mở phân viện, phân hiệu hoặc tổ chức các chương trình đào tạo nhân lực KH&CN tại Việt Nam.

+ Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về khoa học và công nghệ
– Nhà nước tăng cường đầu tư, nâng cấp, hiện đại hoá các cơ sở thông tin KH&CN hiện có, xây dựng và phát triển hệ thống thông tin KH&CN quốc gia liên thông với quốc tế; khai thác có hiệu quả các nguồn thông tin KH&CN trong và ngoài nước, khắc phục tình trạng lạc hậu về thông tin hiện nay của nước ta.
– Xây dựng và phát triển các ngân hàng dữ liệu quốc gia về KH&CN, trước hết là thông tin liên quan tới các kết quả nghiên cứu được Nhà nước cấp kinh phí, các thông tin về sở hữu trí tuệ, số liệu điều tra cơ bản về tài nguyên thiên nhiên và tiềm lực KH&CN.
– Đẩy mạnh việc phổ biến thông tin KH&CN tới người sử dụng, chú trọng thông tin phục vụ doanh nghiệp, phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

+ Tập trung xây dựng một số tổ chức khoa học và công nghệ và cơ sở hạ tầng đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực cho một số hướng khoa học và công nghệ trọng điểm
– Tập trung đầu tư xây dựng một số tổ chức KH&CN trong một số hướng khoa học và công nghệ trọng điểm, đảm bảo cho các cơ quan này có đầy đủ những trang thiết bị nghiên cứu, thực nghiệm, thông tin – tư liệu, đội ngũ cán bộ KH&CN đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
– Xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đạt trình độ tiên tiến của khu vực phục vụ các hướng KH&CN trọng điểm quốc gia.
– Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng đạt trình độ tương hợp với khu vực và quốc tế.
– Đẩy mạnh phát triển các tổ chức nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao, trong đó chú trọng đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào sử dụng 2 khu công nghệ cao ở Hoà Lạc và thành phố Hồ Chí Minh.

+ Huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho khoa học và công nghệ
– Xây dựng cơ chế, chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN: khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ; thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) đầu tư cho phát triển KH&CN; khuyến thành lập quỹ phát triển KH&CN và quỹ đầu tư mạo hiểm có vốn ngoài ngân sách nhà nước; bảo đảm tốc độ tăng chi cho KH&CN từ ngân sách nhà nước hằng năm cao hơn tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước.
– Tập trung đầu tư cho các hướng KH&CN trọng điểm; dành vốn đầu tư thích đáng cho nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong các ngành khoa học; thực hiện đầu tư đồng bộ giữa xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật với đào tạo cán bộ KH&CN.
– Xây dựng hệ thống tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư cho KH&CN, đặc biệt là hiệu quả kinh tế – xã hội.

* Xây dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ
+ Đẩy mạnh đổi mới cơ chế và chính sách kinh tế – xã hội nhằm tạo nhu cầu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống
– Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, từng bước hạn chế độc quyền của các Tổng công ty nhà nước; ban hành các chính sách về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, về giải thể và phá sản doanh nghiệp, hạn chế khoanh nợ, dãn nợ. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế và thúc đẩy việc ra nhập tổ chức thương mại quốc tế tạo sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm thực sự đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tính toán hiệu quả khi lựa chọn công nghệ, đổi mới sản phẩm.
– Tăng cường hỗ trợ của Nhà nước đối với việc nâng cao năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
– Phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, hoàn thiện và mở rộng các công cụ của thị trường tài chính, như thuê mua tài chính, công ty tài chính, v.v… để các doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn vốn đầu tư trung hạn và dài hạn phù hợp với chu kỳ đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ.
áp dụng cơ chế Nhà nước mua sản phẩm KH&CN từ những nghiên cứu không sử dụng ngân sách nhà nước để phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

+ Tạo lập môi trường pháp lý cho hoạt động của thị trường khoa học và công nghệ
– Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của thị trường KH&CN. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến và nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ.
– Thể chế hoá các giao dịch trong thị trường KH&CN nhằm đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm khoa học về công nghệ góp vốn bằng bản quyền đối với sản phẩm nghiên cứu hoặc các hình thức sở hữu trí tuệ khác; mua, bán sản phẩm KH&CN; giao dịch thương mại điện tử, v.v…
– Ban hành các quy định về tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn của sản phẩm KH&CN trước khi đưa vào ứng dụng thực tiễn. Hình thành các tổ chức quản lý thị trường KH&CN.

* Phát triển các tổ chức trung gian, môi giới thị trường khoa học và công nghệ
Khuyến khích, hỗ trợ việc hình thành và phát triển các tổ chức tư vấn, môi giới, dịch vụ chuyển giao công nghệ, chợ thiết bị và công nghệ ở địa phương và ở quy mô cả nước.
+ Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
– Đa dạng hoá đối tác và hình thức hợp tác quốc tế về KH&CN, lựa chọn đối tác chiến lược, gắn kết giữa hợp tác quốc tế về KH&CN với hợp tác quốc tế về kinh tế. Thể chế hoá việc quy định đưa nội dung KH&CN vào các dự án hợp tác quốc tế về kinh tế. Tranh thủ tối đa các kênh chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước ngoài, đặc biệt là kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hợp tác nghiên cứu KH&CN.
– Ban hành chính sách thu hút chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài có trình độ cao đến Việt Nam tham gia nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn, đảm đương các chức vụ quản lý nghiên cứu KH&CN.
– Tăng cường tối đa quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN trong hợp tác quốc tế: gửi cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài; mời chuyên gia nước ngoài hợp tác trong nghiên cứu, giảng dạy; thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng xuất khẩu sản phẩm hàng hoá từ triển khai các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
– Xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế về KH&CN. Chiến lược này phải đưa ra những định hướng, mục tiêu, giải pháp nhằm nhanh chóng nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, rút ngắn khoảng cách về KH&CN của nước ta với khu vực và thế giới; phục vụ đắc lực cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.