Đề tài: Những xu hướng chủ yếu trong thương mại quốc tế hiện nay

Chương Tên tiêu đề

1

Những lí luận chung về thương mại quốc tế

+ Khái niệm, vị trí và vai trò của thương mại quốc tế

+ Đặc điểm của thương mại quốc tế

+ Chính sách thương mại quốc tế

2

Những xu hướng chủ yếu của thương mại quốc tế

+ Tự do thương mại

+ Bảo hộ thương mại

+ Tăng trưởng thương mại

+ Thương mại điện tử và công nghệ thông tin

3

Việt Nam trong xu hướng của thương mại thế giới

 

CHƯƠNG 1: LÝ LUN CHUNG V THƯƠNG MI QUC T

 

1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò của thương mại quốc tế

 

 1.1.1. Khái niệm về thương mại quốc tế

            Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ ( hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên.

 1.1.2. Vị trí và vai trò của thương mại quốc tế

     * Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân

Thương mại quốc tế phụ thuộc cho công cuộc đổi mới kinh tế thông qua sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích sự phát triển của nền sản xuất trong nước, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng.

Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước đưa thị trường nước ta với thị trường thế giới, biến nước ta thành bộ phận của phân công lao động quốc tế. Đó cũng là con đường để đa kinh tế nước ta có bước nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

* Vai trò của thương mại quốc tế ở doanh nghiệp

Thương mại quốc tế là một bộ phận của thương mại cho nên trước hết nó là mục tiêu lợi nhuân của doanh nghiệp. Thông qua thương mại quốc tế, các doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.

Thương mại quốc tế giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường và nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường quốc tế mà ở cả thị trường trong nước thông qua việc mua bán hàng hóa ở thị trường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng các quan hệ bán hàng.

Thương mại quốc tế có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

* Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thương có các chức năng sau:

– Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước

– Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu của tiêu dùng và tích lũy

– Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh

* Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa giữa trong nước với nước ngoài thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và của

nhân dân về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí ít nhất.

 

1.2 Đặc điểm của thương mại quốc tế

a. Tốc độ gia tăng mậu dịch quốc tế tiếp tục cao.

Năm 1979-1988 1989-1998 2004 2005 2006 2007
Tốc độ tăng trưởng bình quân (%) 4,3 6,5 10,6 7,4 8,9 gần 9

(số liệu của IMF)

 

* Tốc độ tăng trưởng thương mại tăng cao là do các nguyên nhân sau:
– Tự do hóa thương mại, rào cản thương mại giảm
– Các điều kiện hỗ trợ thương mại ngày càng thuận lợi (phương tiện thông tin liên lạc, dịch vụ hỗ trợ như tài chính, tư vấn…, thương mại điện tử ngày càng phát triển…)
– Chính phủ các nước ngày càng nỗ lực để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển (hoàn thiện chính sách, hỗ trợ trực tiếp xúc tiến thương mại, ký kết các hiệp định thương mại song phương đa phương…)

b. Thị trường mở rộng và phát triển không ngừng, vô hạn định tiến tới sự nhất thể hóa
– Các doanh nghiệp liên kết với nhau để mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động. Hoạt động mua bán và sáp nhập (M & A) ngày càng phát triển.
– Cac chính phủ liên kết với nhau thông qua các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Xu thế khu vực hóa về thương mại gia tăng. (AFTA – ASEAN, EU, NAFTA,…)

c. Một thị trường rất cụ thể và ngày càng khó tính, đa dạng phong phú

Khoa học kỹ thuật phát triển làm cho xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao. Do đó, thị trường hàng hóa và dịch vụ ngày càng trở nên đa dạng phong phú hơn (hàng hóa đa dạng về giá trị sử dụng, mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng,…)

d. Buôn bán quốc tế tập trung cao độ trong tay một số ít các nước công nghiệp phát triển
(ĐVT: tỷ USD), số liệu năm 2005

Khu vực Thế giới OECD Hoa Kỳ Đức Nhật Bản
Xuất khẩu 10.239,8 5.750,4 907 978 595
Nhập khẩu 10.488 6.434,7 1732 777 515

Các nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm 14,5% dân số thế giới, nhưng sản xuất ra 71,4% tổng sản phẩm của thế giới và chiếm trên 60% tổng xuất nhập khẩu của thế giới. Vì vậy, những nước này có khả năng chi phối tình hình cung cầu và giá cả trên thị trường thế giới.
Các nước công nghệ phát triển xuất khẩu chủ yếu những hàng hóa công nghiệp chế biến sâu, mang hàm lượng khoa học công nghệ cao (xe hơi, máy tính, thiết bị điện, điện tử…), nhập khẩu chủ yếu nguyên liệu thô và những sản phẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Với cơ cấu như vậy, các nước công nghiệp phát triển có rất nhiều thuận lợi trong hoạt động thương mại.

e. Buôn bán với nước ngoài của các nước đang và kém phát triển luôn ở trong tình trạng bất lợi.
– Các nước đang và kém phát triển chủ yếu xuất khẩu: nguyên liệu thô (dầu thô, than gỗ, khoáng sản…), nông sản (gạo, cao su, cà phê,…), sản phẩm thâm dụng lao động (dệt may, giày dép, hàng thủ công, mỹ nghệ…) mà giá các sản phẩm này có xu hướng giảm.
– Các nước đang và kém phát triển chủ yếu nhập khẩu những mặt hàng công nghệ cao, máy móc thiết bị để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, mà giá các mặt hàng này có xu hướng tăng.
Chính vì cơ cấu sản phẩm như vậy nên họ luôn gặp bất lợi trong thương mại quốc tế.

f. Chuyển dịch căn bản về chất trong cơ cấu buôn bán với thế giới.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất nên cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với các xu hướng chính sau:
– Giảm mạnh tỷ trọng các mặt hàng: nguyên vật liệu thô, sản phẩm nông nghiệp, những mặt hàng sử dụng nhiều lao động giản đơn.
– Tăng mạnh tỷ trọng các mặt hàng: sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất là máy móc, thiết bị công nghệ cao và những mặt hàng tinh chế, những mặt hàng kết tinh lao động phức tạp.

g. Cạnh tranh ngày càng quyết liệt.
Cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ trên cả 3 cấp độ:
– Cạnh tranh giữa các quốc gia (vị thế, hình ảnh quốc gia)
– Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (thương hiệu, uy tín)
– Cạnh tranh về sản phẩm (chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, dịch vụ sau bán hàng…)

h. Buôn bán về dịch vụ phát triển với tốc độ lớn hơn tốc độ buôn bán hàng hóa hữu hình
* Nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực dịch vụ. Ở các nước công nghiệp phát triển, dịch vụ tạo ra hơn 60% GDP, số lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ chiếm trên 50% lực lượng lao động.
* Một số dịch vụ tạo ngoại tệ quan trọng: Vận tải quốc tế, Du lịch quốc tế, Tư vấn kỹ thuật, Tài chính, Bảo hiểm.

i. Chính phủ các nước ngày càng tác động mạnh vào thị trường thế giới
* Nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia và giải quyết những khó khăn như suy thoái, gian lận thương mại, cạnh tranh gay gắt…, Chính phủ các nước đưa ra nhiều biện pháp để tác động vào thị trường.
* Một số biện pháp:
– Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin thị trường
– Sử dụng các công cụ tài chính:
+ Tỷ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu, giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu
+ Áp dụng biện pháp thuế nội địa hợp lý, cho vay vốn lãi suất thấp nhằm khuyến khích sản xuất và xuất khẩu
+ Kiểm soát giá cả và thị trường đối với những sản phẩm quan trọng, mà sự biến động của nó ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống trong nước: lương thực, xăng dầu, phân bón…
+ Kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ
j. Các tổ chức kinh tế quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng trong điều tiết thị trường thế giới. 
Các tổ chức kinh tế quốc tế như WTO, WB, IMF, ADB… ngày càng mở rộng và góp phần phát triển kinh tế thế giới. Trong đó WTO có vai trò ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mại quốc tế. Các thể chế điều chỉnh của WTO ngày càng có hiệu lực đối với nhiều nước, mức độ điều chỉnh và tính chất điều chỉnh cũng ngày càng sâu sắc và hiệu quả hơn.

 

1.3. Chính sách thương mại quốc tế

1.3.1  Khái niệm: Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế hành chính và pháp luật mà mỗi nhà nước áp dụng để thực hiện các mục tiêu xác định trong lĩnh vực thương mại của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với lợi ích quốc gia và cam kết quốc tế.

1.3.2 Cơ sở xây dựng CSTMQT

-Đặc điểm phát triển kinh tế -xã hội của quốc gia

-Các cam kết quốc tế mà quốc gia đó đã và đang thực hiện

-xu hướng phát triển của nền kinh tế tế giới và thương mai quốc tế

 

1.3.3. Các nội dung của CSTMQT

– Chính sách mặt hàng:

* Định hướng và chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực

* Chính sách mặt hàng nhập khẩu

– Chính sách thị trường:

* Định hướng phát triển thị trường và các thị trường trọng điểm

* Các biện pháp thực hiện

– Chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển xuất khẩu

* Chính sách khuyến khích sản xuất phục vụ xuất khẩu

* Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu

– Các biện pháp quản lý nhập khẩu

* Thuế quan

* Các biện pháp phi thuế quan

CHƯƠNG 2. XU HƯỚNG CH YU TRONG THƯƠNG MI QUC T HIN NAY

2.1. TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI

 

 

 

 2.1.1 Khái niệm

Quá trình tự do hóa thương mại là quá trình nhã nước giảm dần sự can thiệp vào các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia nhằm tạo điều kiện thông thoáng và thuận lợi cho các hoạt động đó phát triển một cách hiêu quả.

  

2.1.2 Mục tiêu

– Phát triển hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, cụ thể là phát triển khả năng xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác đồng thời mở rộng hoạt động nhập khẩu những hàng hóa không có điêù kieennj để sản xuất hoặc sản xuất có hiệu quả thấp.

– Taọ điều kiện cho việc phát triển quan hệ hợp tác kinh tế nói chung giữa các nước trước hết là quan hệ hợp tác đầu tư.

– Tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp bằng cách tạo ra môi trường cạnh tranh tốt như tạo ra sự bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài đó là động lực quan trọng để các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

  

2.1.3  Cơ sở

– Xuất phát từ quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, các quốc gia phải tăng cường quá trình hợp tác trước hết là trong lĩnh vực thương mại do đó nhà nước phải giảm dần sự can thiệp và tăng cường áp dụng các biện pháp theo chuẩn quốc tế và khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế quốc tế phát triển.

– Các nước trên thế giới đang chuyển sang áp dụng mô hình kinh tế thị trường mở cửa nhằm tạo điều kiện phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có hoạt động sản xuất kinh doanh Thương mại quốc tế

– Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia cũng là cơ sở cho các nước thực hiện mô hình chính sách tự do hóa thương mại quốc tế.

  

2.1.4 Nội dung

– Nhà nước tiến hành cắt giảm các công cụ, biện pháp gây hạn chế cho hoạt động TMQT như thuế quan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng phát triển quan hệ trao đổi mua bán hang hóa với nước khác.

– Nhà nước từng bước đưa vào thực hiện các chính sách và biện pháp quản lý như quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, chính sách đảm bảo sở hữu trí tuệ, thương hiệu hàng hóa theo các cam kết trong các hiệp định hợp tác đã kí kết và theo chuẩn mực chung của thế giới.

 

 2.1.5 Các biện pháp

Nhà nước phải xây dựng một lộ trình tự do hóa thương mại một cách phù hợp với điều kiện và khả năng của quốc gia, dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế của mình. Chính phủ và các cơ quan phải áp dụng các biện pháp và hoạt động phù hợp để tuyên truyền và phổ biến các thong tin cơ bản của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tự do thương mại. Ngoài ra Chính phủ phảo có biện pháp  hỗ trợ kịp thời và thích hợp để nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội cũng như vượt qua thách thức trong quá trình mở cửa tự do hóa thương mại

2.2. BẢO HỘ MẬU DỊCH

 

2.2.1 Khái niệm

Bảo hộ mậu dịch là quá trình chính phủ các nước tiến hành xây dựng và đưa vào áp dụng các biện pháp thích hợp trong chính sách TMQT nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài.

 

2.2.2 Mục tiêu

Bảo hộ mậu dịch nhằm bảo hộ hàng hóa trong nước và nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của các quốc gia khác , đặc biệt là những ngành sản xuất hàng hóa  thay thế nhập khẩu.

 

2.2.3 Cơ sở

– Xuất phát từ sự khác nhau về khả năng và điều kiện tái sản xuất giữa các nước nên cần phải áp dụng các biện pháp bảo hộ đối với sản xuất trong nước trước áp lực cạnh tranh đối với các mặt hàng sản xuất nước ngoài nhằm đảm bảo chủ quyền kinh tế cho quốc gia , tránh sự lệ thuộc với các quốc gia khác trong quá trình phát triển.

–  Một số lý do cụ thể khác như :

+ Khắc phục 1 phần tình trạng thất nghiệp thông qua việc thực hiện thuế quan bảo hộ : Bởi các loại thuế nhập khẩu đánh vào các sản phẩm có thể thay thế nhập khẩu sẽ tạo điều kiện để mở rộng thêm việc sản xuất các loại sản phẩm ấy và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước

+ Tạo điều kiện cho ngành “công nghiệp non trẻ” phát triển: Những ngành công nghiệp non trẻ phải chịu chi phí ban đầu cao hơn và không thể cạnh tranh ngay trong 1 vài năm đầu tiên với các đối thủ nước ngoài dày dạn kinh nghiệm. Một chính sách tự do buôn bán có thể bóp chết các xí nghiệp non trẻ ngay từ khi chúng mới sinh ra. Một hình thức thuế quan tạm thời đánh vào hàng nhập khẩu sẽ cho phép họ trưởng thành tới độ “chín muồi” và được bảo vệ để chống lại sự cạnh tranh từ nước ngoài.

+ Tạo nên nguồn ” tài chính công cộng”: Các loại thuế nhập khẩu là nguồn thu cho Chính phủ đáp ứng các chi phí trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng, tiến hành việc trả nợ và giải quyết các khoản chi phí khác.

+ Phân phối lại thu nhập: Các loại thuế nhập khẩu  sẽ làm dịch chuyển 1 phần thu nhập của những người tiêu dùng giàu có hơn sang cho những người sản xuất các loại hàng hóa được sản xuất trong nước tương ứng với các hàng hóa nhập khẩu.

 

2.2.4 Nội dung

– Chính phủ và các bộ ngành thực hiện xây dựng và hoàn thiện các biện pháp công cụ chính sách phù hợp với xu thế biến động kinh tế của thế giới cũng như mục tiêu, điều kiện phát triển trong nước  nhằm bảo vệ cho nền sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài.

 

2.2.5 Biện pháp

– Chính phủ áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu vừa đảm bảo cho lợi ích sản xuất trong nước đồng thời đảm bảo lợi ích cho quốc gia bạn trên nguyên tắc ” có đi có lại” cũng như ” quan hệ bình thường”.

– Chính phủ cần xây dựng mục tiêu và lựa chọn các ngành sản xuất để bảo hộ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các nguồn lực trong nước.

 

2.3 TĂNG TRƯỞNG THƯƠNG MẠI

–              Các loại hình công ty, tập đoàn lớn, công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia được hình thành với phạm vi hoạt động không biên giới và hình thành các tổ chức, hiệp hội thương mại khu vực và toàn cầu. Phạm vi tác động của thương mại quốc tế ngày nay mang ý nghĩa vô cùng sâu rộng, bao gồm nhiều thành phần thương mại, nhiều thương nhân và hợp thành mạng lưới chằng chịt các loại hình kinh doanh và dịch vụ; vừa liên doanh, liên kết, vừa tự do hoá, vừa độc quyền, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa bình đẳng và không bình đẳng trong kinh doanh, đều cùng nhau tham gia hoạt động mua bán và dịch vụ trên thị trường, trên cơ sở hành lang pháp luật quốc gia và luật lệ quốc tế.

–              Tăng trưởng thương mại không chỉ thể hiện ở quy mô tổ chức và hoạt động của nó, mà còn thể hiện ở khối lượng kim ngạch giao dịch và sự đa dạng hóa các loại sản phẩm dịch vụ được trao đổi. Điều này có nghĩa thương mại quốc tế đã phát  triển sâu và rộng.

–              Xu thế liên doanh liên kết thương mại song phương, đa phương, bình đẳng ngày càng mở rộng và không ngừng phát triển. Sự khu vực hóa và hình thành các khu vực mậu dịch tự do đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường và cạnh tranh bình đẳng hơn, thúc đẩy gia tăng thương mại quốc tế.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam

Nguồn: World Economic Outlook, IMF, 10/2010

2.4 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

2.4.1 Khái niệm

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”.

2.4.2 Xu hướng thương mại điện tử

Internet phát triển mạnh mẽ sẽ là động lực để thúc đẩy sự tăng tr­ưởng buôn bán trên phạm vi toàn cầu. Các n­ước trên thế giới đã và đang sẵn sàng nhập cuộc. Dự báo trong thời gian tới, thư­ơng mại điện tử sẽ đem lại cho các doanh nghiệp một nguồn lợi nhuận khổng lồ.

Doanh thu từ bán hàng qua mạng sẽ chiếm một phần lớn.

Bán hàng qua mạng Internet không mất nhiều thời gian đã trở nên phổ biến giữa khách hàng và các nhà kinh doanh trong những năm gần đây, đặc biệt là trong kỷ nguyên tới. Thực tế cho thấy năm 1999, doanh thu bán hàng từ th­ương mại điện tử đã chiếm một phần quan trọng trong tổng doanh thu tại hầu hết các công ty trên thế giới. Qua đợt khảo sát gần đây, các giao dịch th­ương mại điện tử chiếm 9% doanh thu hằng năm tại 300 công ty. Con số này đ­ược thay đổi từ 6% tại các công ty có qui mô vừa và nhỏ tới 13% tại các công ty lớn. Cũng trong năm 1999, số ngư­ời Mỹ đã tiến hành các thủ tục giao dịch, mua hàng trên mạng là 39 triệu ng­ời (tăng gấp đôi so với năm 1998), 34% số hộ gia đình ng­ười Mỹ đã nối mạng Internet và 17% trong số đó đã tiến hành mua hàng qua mạng.

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, doanh thu từ bán hàng qua mạng Internet sẽ tiếp tục tăng trong năm tới và sẽ giữ mức ổn định trong vài năm tiếp theo.

Th­ương mại điện tử toàn cầu đang phát triển mạnh

Với khu vực thị trư­ờng nội địa to lớn, nhiều công ty của Mỹ còn chậm trong việc bán hàng ra toàn thế giới. Hiện nay, chỉ có khoảng 12% l­ượng hàng bán ra từ các công ty lớn của Mỹ ra thị tr­ường n­ước ngoài. Nh­ưng theo xu h­ướng phát triển tất yếu, con số này đang có chiều hư­ớng gia tăng và dự báo sẽ tăng 15% trong hai năm tới.

Một số n­ước ở Châu Á cũng đang tích cực trong cuộc chạy đua với các quốc gia phát triển. Trong vòng 5 năm tới, số luợng người châu Á truy cập vào mạng Internet sẽ v­ượt quá tổng số ng­ười truy cập ở châu Âu và Bắc Mỹ gộp lại. Dự kiến doanh thu mua bán hàng trên mạng Internet tại châu Á sẽ tăng lên rất nhiều, chiếm 1/4 thu nhập th­ơng mại Internet trên toàn cầu (khoảng 1.400 tỉ USD vào năm 2003). Các công ty lớn với nguồn hàng ổn định luôn mong muốn mở rộng thị tr­ường, rất tích cực trong việc triển khai th­ương mại điện tử, tăng cư­ờng việc bán hàng ra toàn cầu, đồng thời triển khai việc mua hàng hóa và dịch vụ từ nguồn bên ngoài.

Thách thức từ thư­ơng mại điện tử

Mặc dù bán hàng qua mạng Internet đang phát triển một cách nhanh chóng nh­ưng cũng phải cần nhiều thời gian để có thể đạt đ­ược doanh thu cao của hầu hết các công ty. Đã có những lo ngại về sự cạnh tranh với th­ương mại điện tử của các đối thủ trong thế giới kinh doanh truyền thống. Tùy từng ngành công nghiệp khác nhau sẽ phải đối đầu với những thách thức khác nhau trong năm 2000 trong ngành công nghiệp máy tính, 60% chuyên gia công nghệ thông tin lo lắng về các hoạt động thư­ơng mại điện tử của các đối thủ cạnh tranh hơn các ph­ương thức kinh doanh truyền thống x­ưa nay. Tuy nhiên, các ngành sản xuất và dịch vụ khác thì chỉ có khoảng 30% lo ngại về dạng kinh doanh qua th­ương mại điện tử của đối thủ.

PHẦN III. VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG CỦA THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

Sau 10 năm phát triển phát triển theo xu hướng bảo hộ mậu dịch (1975-1985), năm 1986 cùng với chính sách “đổi mới” của Đảng, thương mại Việt Nam đã bước đầu bước vào quá trình tự do hóa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết  Hội nghị  lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII ngày 29.6.1992  về chính sách đối ngoại và kinh  tế đối ngoại đã nêu rõ chủ trương  mở  rộng quan  hệ  với các  tổ chức quốc  tế, nhấn mạnh “cố  gắng khai thông quan  hệ  với các  tổ chức tài chính, tiền  tệ quốc  tế, mở  rộng hợp tác  với các  tổ chức khu  vực, trước  hết là ở châu Á – Thái Bình Dương” là kim chỉ nam cho hoạt động hội nhập KTQT của nước ta trong những năm đầu thập kỷ 90. Đến nay, chủ trương tiếp tục hội nhập quốc tế, tự do hóa thương mại, được thể hiện sâu hơn và chi tiết hơn.

Trong giai đoạn đầu, đối diện với những thách thức và cần thiết của chuyển đổi hệ thống để tiến tới một nền kinh tế thị trường và ổn định tài chính  để khôi phục các cân bằng kinh tế  vĩ mô, những cố gắng cải cách từ 1989 đã mang lại nhiều tiến bộ đáng kể, đến nay đã thiết lập được những phần tử cơ bản của hệ thống kinh tế thị trường, bao gồm: (i) hệ thống giá cả tự do; (ii) khu vực tư nhân năng  động hơn (60% các hoạt  động sản xuất); (iii) chế độ ngoại thương mở cửa rộng rãi; và (iv) hoà nhập các hoạt động kinh tế phi hình thức rộng lớn vào các luồng của thị trường chính thức dựa trên luật pháp. Đặc biệt, việc tháo gỡ các hạn chế thương mại và các biện pháp tự do hoá giá cả đã mở ra những kích thích tiền tệ – gần như vắng mặt trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung – có tác dụng nhanh chóng hỗ trợ vào việc nâng cao tỷ  lệ  sử  dụng các nguồn lực, nhất là trong khu vực nông nghiệp. Cũng trong giai đoạn này, mở cửa ra thế giới bên ngoài của Việt Nam đã định hướng lại luồng ngoại thương từ khối Đông Âu sang khu vực đồng tiền chuyển đổi. Các luồng ngoại thương tăng lên cũng kéo theo bùng nổ đầu tư trực tiếp nước ngoài (trong các năm 1992-96) và viện trợ quốc tế. Kết quả là cho đến nay Việt Nam đã tích luỹ được dự trữ ngoại tệ ở mức cần thiết so với gần như không có trước cải cách.

Trong giai đoạn  vừa qua, chúng ta đã tích  cực tham gia vào quá trình  hội nhập KTQT trên  cả 3 phương diện: đơn phương, song phương,  đa phương và đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ.

Về phương diện đơn phương, ta đã  từng  bước đưa  nền kinh  tế chuyển sang hoạt động theo  cơ chế thị trường định  hướng XHCN  với nhiều thành phần kinh  tế khác nhau. Nhiều  cải cách chính sách kinh  tế đã được triển khai thực hiện nhằm làm cho các hoạt động kinh tế dần được tự do và thuận lợi hơn. Trong lĩnh vực đầu tư và thương mại, Nhà nước đã ban hành và sửa đổi bổ sung các luật và quy định quan trọng như Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp… theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn và thông lệ quốc tế.

Về phương diện song phương, ta đã mở rộng quan hệ kinh tế – thương mại với gần 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, ta đã ký kết được hơn 80 hiệp định kinh tế – thương mại song phương với các nước, trong đó toàn diện nhất là Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) ký ngày 13.7.2001 trên cơ sở các tiêu chuẩn của WTO,  bước  đi quan trọng trong tiến trình  hội nhập KTQT. Sau  hơn 2  năm BTA có hiệu  lực, quan  hệ thương  mại giữa hai  nước đã có những  bước phát triển đáng  kể.  Tổng kim ngạch thương  mại giữa hai nước năm 2003 đạt 5,1 tỷ USD so với 1,2 tỷ USD năm 2001, trong đó xuất khẩu của ta vào Mỹ đạt tới 3,94 tỷ USD. Ngoài ra, ta cũng đã ký nhiều hiệp định song phương như hiệp định đầu  tư song phương  với Hàn Quốc, Nhật Bản, các hiệp định dệt may với Hoa Kỳ, EU…

Về phương diện đa phương, ta đã bình thường hoá quan hệ với IMF, WB (1992), tham gia ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998) và đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Với việc chủ động tham gia vào các hoạt động điều phối và hợp tác, vai trò của nước ta trong các tổ chức này nói riêng và trên thế giới nói chung ngày càng được  củng  cố và nâng cao. Đây là một  cơ  sở  tốt để chúng ta tiến  tới thực hiện mục tiêu gia nhập WTO trong thời gian sớm nhất có thể được.

Với những bước  hội nhập mạnh mẽ vào  nền kinh  tế khu  vực và toàn  cầu, nước ta đã đạt được những  kết quả đáng khích  lệ. Tuy mới ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập nhưng chúng ta đã gặt hái được không ít thành quả trên  tất  cả các  lĩnh  vực: xuất khẩu, đầu  tư, viện trợ phát triển đều  tăng nhanh, góp phần phát triển kinh  tế – xã  hội, giải quyết công  ăn việc làm cho người dân; tranh thủ được  vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý; đào  tạo được không ít nguồn nhân  lực; phát huy vai trò của đất nước trên trường quốc  tế.

Cụ thể, có thể điểm lại như sau:

–  Nền kinh  tế  tăng trưởng  với  tốc độ khá cao và duy trì trong thời gian dài. Trung bình trong 10  năm qua, GDP nước ta đã tăng với tốc độ bình quân khoảng 7,5%/năm, thuộc loại cao trong khu vực và trên thế giới.

– Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động có bước chuyển dịch phù hợp hơn với cạnh tranh quốc tế, giúp phát huy  tốt  hơn hiệu quả  của các nguồn  lực và nâng cao một  bước  năng  lực  cạnh tranh  của một sốngành, một số sản phẩm.

– Các mặt xã hội đều có bước phát triển ổn định, cơ sở hạ tầng được cải thiện một bước, tình hình chính trị và an toàn xã hội được đảm bảo.

Mặc dù vậy, quá trình phát triển ở nước ta vẫn bộc lộ một số mặt yếu kém, cần khắc phục như:

– Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy cao nhưng chưa đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra. Nếu nước ta muốn đạt được mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 thì cần đẩy mạnh đáng kể tốc độ phát triển kinh tế trong thời gian tới.

– Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, của các doanh nghiệp và các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ còn thấp. Một bộ phận không nhỏ của nền kinh tế còn thiếu chủ động trong hội nhập KTQT, còn có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào ưu đãi và bảo hộ của Nhà nước. Chính vì vậy, quá trình phát triển chưa mang tính ổn định và còn nhiều rủi ro tiềm ẩn.

– Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa được thực hiện mạnh và chưa gắn với các yêu cầu của nền kinh tếthị trường.

– Lĩnh vực kinh tế đối ngoại chưa phát triển tương xứng với yêu cầu đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế – xã  hội  của đất  nước: nhịp độ  tăng trưởng xuất khẩu chưa đạt được mục tiêu đề ra, đầu  tư  nước ngoài có dấu hiệu sút giảm trong một số năm và chịu áp lực lớn trong việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giải ngân nguồn vốn ODA chậm

Từ những xu hướng của thương mại trong thời đại ngày nay và đặc biệt là khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO, đặt ra cho nước ta một số vấn đề phải đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển quan hệ thương mại quốc tế:

Một là, phải có chính sách thương mại đúng đắn, phù hợp nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh thông qua quan hệ buôn bán quốc tế để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường khu vực và thị trường thế giới cho mình.

Hai là, lựa chọn mặt hàng và thị trường có lợi nhất cho mình để phát triển và mở rộng quan hệ thương mại quốc tế.

Trong quan hệ thương mại thế giới, cần đa phương hóa, linh hoạt hoá thị trường, mở rộng buôn bán với nhiều nước. Song ở giai đoạn trước mắt đối với nước ta kinh tế chưa phát triển cao, các điều kiện về khoa học – kỹ thuật còn nhiều hạn chế, khả năng cạnh tranh còn yếu, cần lựa chọn những mặt hàng có chất lượng cao xây dựng thành thương hiệu quốc tế và những thị trường có khả năng và ưu thế riêng đối với mình để khai thác và tham gia xuất, nhập khẩu buôn bán thương mại, dịch vụ, trên cơ sở đó từng bước giành chỗ đứng trên thị trường thế giới.

Ba là, hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động thương mại cả ở thị trường trong nước và thị trường ngoài nước. Đây là vấn đề hết sức cần thiết để phát triển lành mạnh thị trường trong nước làm cơ sở hậu phương cho phát triển thị trường ngoài nước. Thị trường trong nước phát triển vững chắc là điều kiện quan trọng để mở rộng thị trường ra ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu và chủ động nhập khẩu của nước ta, ngược lại thị trường ngoài nước được phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy thị trường trong nước phát triển mạnh hơn, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống.

Bốn là, thực hiện tốt các cam kết với WTO và các cam kết song phương khác về thương mại. Việc này chỉ có lợi cho ta, một mặt chứng tỏ với thế giới rằng Việt Nam là nước làm ăn nghiêm chỉnh đúng luật, đúng cam kết; mặt khác tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới và đặc biệt là của tổ chức thương mại thế giới WTO, khi chúng ta gặp phải những khó khăn, rào cản và tranh chấp về thương mại quốc tế.

Năm là, phát huy tốt vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước về thương mại.

Để phát huy đến mức cao nhất lợi thế so sánh thương mại, thì điều quan trọng là phải có những con người quản lý có tri thức mới về thương mại, cùng với những cơ chế, chính sách thương mại đúng đắn phù hợp điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ mới và phù hợp xu thế phát triển và hội nhập kinh tế – thương mại khu vực và thế giới. Do vậy, vấn đề cốt lõi để thực hiện mục đích trên là phải nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng quản lý Nhà nước đối với thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Nhà nước phải làm tốt chức năng quản lý kinh tế vĩ mô nói chung và quản lý hoạt động thương mại quốc tế nói riêng.

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người định hướng chiến lược, quy định khung pháp luật, đề ra những mục tiêu chung cho sự phát triển, công bằng, thống nhất điều hoà các quyền lợi chung và cá nhân.

Nhìn chung các nước hiện nay, kể cả các nước đã phát triển và các nước chậm và đang phát triển đều coi trọng việc kết hợp giữa cơ chế thị trường tự do và sự điều tiết của Nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường để nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.

Đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ quốc tế là xu hướng tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước đã phát triển; do năng lực sản xuất ngày càng lớn, cho nên luôn luôn ở tình trạng thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất. Hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và cạnh tranh thị trường thế giới ngày càng gay gắt là tất yếu.

Trong tình hình đó, để có lợi thế trong quan hệ thương mại thế giới, chen chân được vào thị trường thế giới và bảo đảm không thất bại thì nước ta cần có những chính sách thương mại quốc tế khôn ngoan, linh hoạt, mềm dẻo, vừa phù hợp với điều kiện của nước mình, vừa phù hợp thông lệ quốc tế, vừa đảm bảo luật pháp quốc gia, vừa đảm bảo luật lệ của “sân chơi” thị trường quốc tế.