A. TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI 2011…………….…………3

1. Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm……………..….……..3
2. Vốn đầu tư dịch chuyển và suy giảm………………………………..4
3. Giá tiền, vàng diễn biến xấu……………………………..…………4
4. Tỷ giá diễn biến bất lợi…………………………………..…………5
5. Châu Âu: cơn “bạo bệnh” nợ công……………………….………..6
6. Kinh tế Mỹ thảm hại…………………………………………………7
7. Châu Á: Điểm sáng hiếm hoi…………………………..…..………9

B. TRIỂN VỌNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012-2013………………10

I. SỨC TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012-2013…………10
1. Nền kinh tế thế giới nói chung…………………………………………………10
2. Kinh tế một số nước và khu vực nói riêng……..………………..12
2.1 Mỹ………………………………..…………………….……13
2.2 Khu vực đồng tiền chung châu Âu…………………..………14
2.3 Mỹ La-tinh……………………………………….….………14
2.4 Khu vực châu Á………………………………….…….……18
Năm nước ASEAN…………………………………….……19
Trung Quốc……………………………..………………….20

II. TÀI CHÍNH TIỀN TỆ……………………….……………………21
1. Tiền tệ………………………………….………………………….21
2. Thị trường chứng khoán…………………….…………………….24
3. Giá vàng, dầu mỏ………………………………………………….26
4. Khủng hoảng nợ công ở châu Âu………………..………………..32
5. Lạm phát……………………………………..……………………36

C. NHỮNG THÁCH THỨC CHO KINH TẾ THẾ GIỚI
2012-2013…………………………………………………………..38
I. KINH TẾ……………………………………………………….….38
1. Nguy cơ tan rã của khu vực đồng tiền chung châu Âu…………….38
2. Sự phục hồi chậm của một số nền kinh tế lớn………………..……39
II. XÃ HỘI
1. An ninh lương thực thế giới bất ổn………………………..………40
2. Tài nguyên toàn cầu……………………………………………….42
3. An ninh thế giới……………………………………………………43

A. TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI 2011

Năm 2011, tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, sự phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra chậm chạp, nguy cơ tái khủng hoảng tài chính – kinh tế vẫn tiềm ẩn đã và đang đặt ra cho cộng đồng quốc tế những nguy cơ, thách thức mới trong năm 2012.

1. Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm
Kinh tế toàn cầu đã và đang trải qua giai đoạn khó khăn, quá trình phục hồi diễn ra chậm chạp, tăng trưởng đang suy giảm. Theo IMF, kinh tế toàn cầu năm 2011 chỉ đạt mức 4,0%, thấp hơn 5,1% so với năm 2010.
Khu vực các nước phát triển tăng trưởng 1,6% năm 2011 so với tăng trưởng 3,1% của năm 2010 (Nhật Bản đã tăng trưởng trở lại, nhưng cũng chỉ đạt mức 0,5% trong năm nay.). Khu vực các nước đang phát triển và mới nổi, tăng trưởng 6,4% năm 2011 so với mức 7,3% năm 2010.

2. Vốn đầu tư dịch chuyển và suy giảm
Luồng vốn FDI dịch chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và mới nổi tăng từ 485,4 tỷ USD năm 2010 lên mức 555 tỷ USD năm 2011. Tuy nhiên, luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài lại giảm.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp bị giảm là do các nguyên nhân: (1) Bất ổn chính trị tại khu vực Trung Đông – Bắc Phi; (2) Lạm phát tăng cao tại các nước đang phát triển; (3) Các quốc gia đang phát triển kiểm soát chặt chẽ dòng vốn nóng (4) Lợi nhuận của các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu bị giảm sút. Trong nửa đầu năm 2011, luồng vốn đầu tư gián tiếp bị rút khỏi các nước đang phát triển khoảng 25 tỷ USD, ngược với dòng vốn chảy vào khoảng 85 tỷ USD trong cùng kỳ năm 2010. Tình hình trên tiếp tục gây khó khăn cho thị trường chứng khoán của các nước này.

3. Giá tiền, vàng diễn biến xấu
USD giảm giá nhiều nhất so với đồng Euro (-7,77%), AUD (-4,8%), bảng Anh (-2,79%) và các đồng tiền khu vực châu Á như Đô-la Singapore (-4,27%), đồng Won Hàn Quốc (-4,84%)… so với cuối năm 2010 (theo Reuters).
Đồng USD giảm giá là do nền kinh tế Mỹ phục hồi chậm chạp và tiếp tục đối mặt với những vấn đề khó khăn như, tình trạng thất nghiệp cao (9-10%), thâm hụt ngân sách lớn, nợ công đã vượt quá mức trần được Quốc hội cho phép.
Khép lại năm 2011, vàng thế giới tăng thêm 12%, đánh dấu năm tăng giá thứ 11 liên tiếp. Đây cũng được xem là năm đầy biến động của vàng khi tăng lên mức cao nhất và cũng giảm mạnh từ mức cao nhất.

4. Tỷ giá diễn biến bất lợi
Ngân hàng trung ương nhiều nước trên thế giới đã điều chỉnh lãi suất theo chiều hướng tăng dần nhằm đối phó với lạm phát. Nửa đầu năm 2011, Trung Quốc đã 3 lần tăng lãi suất lên đến mức 6,56% và 6 lần tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc; Nga cũng nâng từ mức 7,75%/năm lên 8%/năm; Ấn Độ nâng từ mức 5,75% lên 6,25%/năm; Thái Lan cũng 3 lần điều chỉnh tăng lãi suất từ 2% lên mức 3%/năm; Philippines tăng từ 4,25%/năm lên 4,5%/năm, Malaysia tăng từ 2,75%/năm lên 3%/năm.
Một số nước phát triển cũng nâng lãi suất như: Hàn Quốc đã 2 lần nâng lãi suất, lên mức 3,0%/năm, châu Âu (ECB) 2 lần tăng lãi suất từ 1%/năm lên mức 1,5%/năm. Tuy nhiên, một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Thụy Sỹ, Na Uy và Nhật Bản vẫn duy trì lãi suất cơ bản thấp như cuối năm 2010 để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. FED (Mỹ) duy trì mức lãi suất thấp 0% -0,25%/năm; Anh 0,5%/năm; Nhật Bản 0%-0,1%.

5. Châu Âu với cơn “bạo bệnh” nợ công
Năm 2011, châu Âu bất đắc dĩ trở thành tâm điểm của cả thế giới khi cuộc khủng hoảng nợ công tại Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) biến thành cơn “bạo bệnh” đe dọa xóa sổ mọi thành quả khối này đạt được trong 1 thập kỷ qua.
Châu Âu, khủng hoảng nợ công vẫn tiếp tục lan rộng. Khoản nợ phải trả cho năm 2011 lên tới 560 tỷ Euro (736 tỷ USD), cao hơn 45 tỷ USD so với năm 2010. Mặc dù EU đã đưa ra các gói cứu trợ gần 300 tỷ Euro cho Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, nhưng những khâu yếu nhất trong khu vực Eurozone vẫn chưa thực sự thoát hiểm. Kinh tế Hy Lạp, Ireland vẫn tiếp tục suy thoái, nợ công tăng cao, có thể lên tới 160% vào các năm tới.
Cuộc khủng hoàng trầm trọng này diễn biến hết sức phức tạp và đã lan sang Italia, Tây Ban Nha, thậm chí cả nước Pháp. Các nhà lãnh đạo thế giới đã phải gia tăng nỗ lực và có những hành động mang tính quyết định nhằm tránh nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ công đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế mới.
Năm 2011, khoản nợ công của Italia chiếm tới 120% GDP, tương đương 1/4 tổng số nợ của 17 nước trong Eurozone cộng lại còn khoản nợ của Pháp chiếm 85% GDP.
Tỷ lệ thất nghiệp tại Eurozone đã liên tục tăng và đạt mức cao nhất 10,3% trong tháng 10 với 16,3 triệu người không có việc làm, mức cao nhất kể từ năm 1995 đến nay. Trong đó, Tây Ban Nha có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất khối với mức 22,8% và Italia là 8,5%.
Công cuộc x