CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
1.1. Quan niệm về phát triển kinh tế Xanh …………………………………….5
1.1.1. Đối với các nhà kinh tế học ……………………………………………5
1.1.2. Đối với các tổ chức quốc tế ……………………………………………6
1.2. Nội dung của phát triển Kinh tế Xanh ………………………………………13
1.3. Vai trò của nền Kinh tế Xanh …………………………………………….15
1.3.1. Kinh tế Xanh đóng vai trò quan trọng trong Phát triển bền vững ……15
1.3.2. Kinh tế xanh bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học ……………. 17
1.3.3. Phát triển Kinh tế Xanh có thể tạo ra việc làm ……………………….18
1.3.4. Kinh tế Xanh có thể giúp xóa đói giảm nghèo ………………………..20
1.4. Các tiêu chí đánh giá phát triển Kinh tế Xanh ……………………………21
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
2.1. Ở các nước phát triển …………………………………………………….. 22
2.1.1. Nhận định của các nước phát triển về Kinh tế Xanh ……………. 22
2.1.2. Chính sách và các mô hình phát triển kinh tế Xanh của một số nước phát triển …………………………………………………………. 25
2.1.2.1. Mỹ …………………………………………………….. 25
2.1.2.2. Các nước EU ………………………………………….. 26
2.1.2.3. Canada ………………………………………………… 28
2.1.2.4. Hàn Quốc …………………………………………… 29
2.2. Ở các nước đang phát triển ……………………………………………….31
2.2.1. Nhận định của các nước đang phát triển về Kinh tế Xanh ……….31
2.2.2. Chính sách và các mô hình phát triển kinh tế Xanh của một số nước đang phát triển …………………………………………………..33
2.2.2.1. Trung Quốc …………………………………………..33
2.2.2.2. Ấn Độ…………………………………………………37
2.2.2.3. Singapore……………………………………………..40
2.2.2.4. Nepal………………………………………………….41
CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM
3.1. Quan điểm của Việt Nam về phát triển Kinh tế Xanh …………………41
3.2. Cơ hội và thách thức ……………………………………………………45
3.2.1. Cơ hội ……………………………………………………………45
3.2.2. Thách thức ……………………………………………………….48
3.3. Định hướng và chính sách ………………………………………………49
3.3.1. Định hướng ………………………………………………………49
3.3.2. Chính sách ……………………………………………………….51
3.4. Những bước tiến đầu tiên hướng tới nền kinh tế Xanh ……………… ..52
3.4.1. Việt Nam tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và các điều ước quốc tế về môi trường ……………………………………………52
3.4.2. Thực hiện xanh hóa các ngành kinh tế …………………………. 52
3.5. Chiến lược phát triển Kinh tế Xanh trong tương lai …………………….57

CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH

1.1. Quan niệm về phát triển kinh tế Xanh
1.1.1. Đối với các nhà kinh tế học
Lý thuyết về Kinh tế xanh là xu hướng mới của lý thuyết kinh tế học hiện đại:
Thực tế tồn tại và phát triển hơn hai thế kỷ của kinh tế học truyền thống cho chúng ta thấy lý thuyết này đã đặt sức ép quá lớn lên thế giới tự nhiên và các nguồn lực của nó. Phát triển kinh tế chủ yếu chú trọng vào mặt hiệu quả – lợi ích mang lại từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, mà chưa tính đến các chi phí phải đầu tư để ngăn ngừa, giảm ô nhiễm và bảo vệ môi trường. Tăng trưởng kinh tế hiện nay đang đạt tới cấp độ tàn phá nhiều hơn là tạo ra của cải thực. Do đó, quá trình phát triển kinh tế này đã đưa thế giới tới đại suy thoái kinh tế, khủng hoảng sinh thái trầm trọng và biến đổi khí hậu. Nếu nhìn nhận mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng bền vững, thì mô hình phát triển kinh tế hiện tại rõ ràng không còn phù hợp nữa.
Nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới Herman Daly cho rằng tương lai của nền văn minh loài người phụ thuộc vào một mô hình kinh tế mới và năng động – được biết đến như là nền kinh tế bền vững – bảo vệ và gìn giữ môi trường mà chúng ta đang phụ thuộc vào nó. Do đó, chúng ta cần định hướng lại kinh tế học của chúng ta để nó quay trở về đúng quỹ đạo của nó và do đó, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Kinh tế học xanh nhìn thấy những khiếm khuyết của kinh tế học đương đại trong thế giới hiện đại, ở đó một phần năm dân số hiện vẫn sống trong cảnh nghèo và trong sự tiếp diễn của khủng hoảng môi trường. Theo đó, lý thuyết kinh tế Xanh đưa ra các nguyên tắc và các giải pháp thực tế, tích cực và hiệu quả đối với các vấn đề toàn cầu, vì sự phát triển bền vững, vì sự tồn tại của thế giới tự nhiên mà loài người là một phần trong đó và phụ thuộc vào nó, và vì sự cân bằng tự nhiên giữa loài người và thế giới tự nhiên.

1.1.2. Đối với các tổ chức quốc tế
Bắt đầu từ những năm 1960, những dấu hiệu cho thấy sự phát triển ngày càng tăng của nạn suy thoái môi trường đã ngày một rõ ràng hơn, con người đã bắt đầu ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống. Các tổ chức quốc tế đã đã có những ghi nhận và những cảnh báo đầu tiên về hiện trạng báo động của suy thoái môi trường.
– Tháng 9/1968, UNESCO đã triệu tập tại Paris – Pháp một hội nghị về môi trường nhằm tìm kiếm phương cách sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của sinh quyển.
– Tháng 6/1972 hội nghị LHQ về môi trường con người được tổ chức tại Stockholm – Thụy Điển. Hội nghị được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thế nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường như sự thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường, từ đó dẫn đến việc thành lập Chương trình môi trường Liên hợp quốc UNEP, một cơ quan đóng vai trò chủ chốt trong việc hình thành sự phối hợp, hợp tác quốc tế để đương đầu với cách thức về môi trường trên phạm vi toàn cầu
– Những sự kiện làm suy thoái môi trường nghiêm trọng tính tới năm 1992 như vụ nổ hóa chất gây phát tán chất độc màu da cam ở Seveso, ngoại ô Milan (1976); nhà máy năng lượng hạt nhân đảo Three Mile dò rỉ hóa chất lỏng, gây thẩm thấu cục bộ (1979); thảm họa nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl tại Ukraina làm 31 người thiệt mạng ngay tức khắc (1986); vụ tràn hóa chất Sandoz trên sông Rhine, Thụy Sĩ (1989);… Từ ngày 14/6/1992, một hội nghị nhằm tạo cơ sở cho cuộc sống bến vững trên trái đất và ngăn chặn suy thoái môi trường của hành tinh đã được tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil, và được biết đến là hội nghị Rio. Sau hội nghị, thế giới đã nâng cao được nhân thức về môi trường, đồng thời các nước công nghiệp hóa đã nhận thức được rằng họ có một vai trò to lớn hơn trong việc làm sạch môi trường.
Biểu đồ dưới đây ghi nhận một sự gia tăng trong phát thải khí nhà kính (CO2, NH4, N2O, và một số khí khác) rất đáng lo ngại. Đặc biệt trong đó, các nước công nghiệp phát triển chịu trách nhiệm chính về phát thải khí hiệu ứng nhà kính.

Nguồn: PRIMAP
Hình 1.1: Khối lượng khí thải của các nước EU, Mỹ, Nga, Trung Quốc
so với toàn thế giới

Khí nhà kính là nguyên nhân làm Trái Đất nóng lên. Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5 – 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX.

Bảng số liệu sau cho thấy từ những năm 1990 có một hiện thực báo động trên thế giới về suy giảm diện tích rừng, đặc biệt do hoạt động chặt phá của con người để phục vụ cho lợi ích kinh tế.

Diện thích bao phủ rừng trên thế giới
1990 2010
Diện tích rừng tự nhiên
(Héc-ta) 4.17 tỷ 4.03 tỷ
Diện tích rừng trồng
(Héc-ta) 178 triệu 264 triệu
Diện tích rừng bị chặt phá trên thế giới
1990-2000 2000-2010
Diện tích rừng bị mất trung bình mỗi năm
(Héc-ta) 8.3 triệu 5.2 triệu
Diện tích rừng bị chặt phá trung bình mỗi năm
(Héc-ta) 16 triệu 13 triệu
Diện tích rừng trồng mới trung bình mỗi năm
(Héc-ta) 3.36 triệu 5 triệu

Nguồn: Global Forest Resource Assessment 2020, FAO
Bảng 1.1: Thay đổi trong diện tích bao phủ rừng
và diện tích rừng bị chặt phá

Đây chính là những tiền đề thúc đẩy sự ra đời và phát triển của khái niệm Kinh tế Xanh không lâu sau đó.

Khái niệm kinh tế Xanh ra đời
Ý tưởng phát triển kinh tế Xanh được đưa ra từ thập kỉ 70 của thế kỉ trước trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng giai đoạn 1972 – 1973 gây ra những tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế thế giới. Tuy đã có một số nghiên cứu bước đầu song nhìn chung đến đầu những năm 2000 khái niệm kinh tế Xanh chưa thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế.
Những năm gần đây, khái niệm kinh tế Xanh thu hút sự quan tâm chú ý rộng rãi hơn khi mô hình kinh tế nâu (brown economy) chủ yếu dựa vào khai thác và sử dụng nguyên liệu hóa thạch ngày càng bộc lộ nhiều bất cập, không đáp ứng được các yêu cầu về phát triển bền vững. Đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, phát triển kinh tế Xanh trở thành chủ đề quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế và được coi là một trong những ưu tiên chính trong chính sách tái cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia cũng như giải quyết các thách thức toàn cầu đang nổi lên như biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng… Tuy nhiên, phải đến tháng 10/2008, UNEP phối hợp với các nền kinh tế hàng đầu thế giới mới triển khai sáng kiến “kinh tế Xanh” (Green Economy). Đây là một hướng tiếp cận mới, được nhiều quốc gia đồng tình hưởng ứng.
Theo Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), nền kinh tế Xanh là “một nền kinh tế hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống con người và tài sản xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên”. Hiểu một cách đơn giản, “Kinh tế Xanh” là nền kinh tế thân thiện với môi trường, ít phát thải cacbon, quan tâm tới bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm, chất thải nguy hại tới môi trường trong quá trình sản xuất và có khả năng tại ra các sản phần và dịch vụ thân thiện với môi trường và giúp tạo ra công bằng xã hội. Đồng thời, nó là chiến lược kinh tế để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Còn theo OECD – Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development):“Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta. Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới’’.

Quan điểm về phát triển Kinh tế Xanh của các tổ chức quốc tế
Phát triển bền vững gắn liền với kinh tế Xanh và tăng trưởng xanh ngày càng được thảo luận rộng rãi tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Tiêu biểu là báo cáo “Hướng tới nền kinh tế Xanh: Con đường đến phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” năm 2011 của UNEP với kết luận: Kinh tế Xanh không chỉ phù hợp với các nước phát triển mà còn phù hợp với các nước đang phát triển, nơi gần 90% GDP của người nghèo gắn liền với vốn của thiên nhiên như rừng và nước ngọt. Kinh tế Xanh được xác định là chủ đề chính của Hội nghị của Liên hợp quốc về phát triển bền vừng (Rio + 20) sẽ được tổ chức vào năm 2012 tại Brazil.
Nhiều diễn đàn, tổ chức uy tín như Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), G20… cũng tích cực thúc đẩy chương trình nghị sự về kinh tế Xanh. Theo nghiên cứu của OECD, nền kinh tế Xanh sẽ tạo ra động lực mới thúc đẩy tăng trưởng thông qua: (i) Tăng cường tính hiệu quả, sử dụng tài nguyên một cách tối ưu nhất; (ii) Tạo điều kiện nghiên cứu các phát minh mới giúp xử lý các vấn đề môi trường; (iii) Hình thành các thị trường mới, việc làm mới thông qua khuyến khích sử dụng các công nghệ, sản phẩm và dịch vụ xanh; (iv) Tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư, giảm lo ngại về các tác động chính sách xử lý môi trường của chính phủ; (v) Tăng cường tính ổn định vĩ mô qua việc giảm sự biến động giá cả của tài nguyên, gia tăng nguồn thu ngân sách.
14 sáng kiến được các cơ quan Liên hợp quốc thúc đẩy hướng tới nền Kinh tế Xanh như Nông nghiệp thông minh với khí hậu (FAO phát động), Đầu tư công nghệ sạch (WB), Việc làm xanh (ILO), Kinh tế Xanh (UNEP), Giáo dục vì phát triển bền vững (UNESCO), Xanh hoá khu vực y tế (WHO), Thị trường công nghệ xanh (WIPO), Tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh (ITU), Giải pháp năng lượng xanh (UN WTO), Sản xuất sạch hơn và hiệu quả nguồn tài nguyên (UNEP và UNIDO), Các thành phố và biến đổi khí hậu (UN-HABITAT), Tái chế tàu biển (IMO),…
Liên quan đến các diễn đàn khu vực và liên khu vực có sự tham gia của các nước châu Á, Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) xác định các nội dung về phát triển bền vững, chú trọng vấn đề môi trường là một trong những chủ đề thảo luận chính và là một trong ba ưu tiên của APEC năm 2011. Trong khuôn khổ hợp tác Á – Âu (ASEM), hội nghị cấp cao ASEM 8 năm 2011 đã thảo luận vấn đề kinh tế Xanh và tăng trưởng xanh.
Theo nhận định của các chuyên gia, chiến lược “Kinh tế Xanh” đã trở thành bước ngoặt phát triển cho tiến trình khôi phục kinh tế toàn cầu và cũng là động lực mới cho việc thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển bền vững. Liên hợp quốc nhận định, chính sách Kinh tế Xanh còn là con đường phát triển cần thiết cho kinh tế toàn cầu trong tương lai (UNEP, 2009).

1.2. Nội dung của phát triển Kinh tế Xanh
Khái niệm ban đầu của UNEP: “Nền Kinh tế Xanh mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên” cho thấy, phát triển một nền Kinh tế Xanh thực chất là vì con người, đảm bảo phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinh thái, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.
Một nền Kinh tế Xanh đơn giản là một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tính công bằng về mặt xã hội. Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của hệ sinh thái. Như vậy khác với trước đây, trong “nền kinh tế nâu”, đầu tư công cần phải có sự điều chỉnh cơ bản thông qua những chính sách mới được cải thiện của các quốc gia, ưu tiên cho duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc sở hữu chung mang lại lợi ích cho mọi người. Sự đầu tư đó cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và an sinh của họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu.
Theo Trung tâm công dân toàn cầu (Global Citizens Center) do ông Kevin Danaher điều hành, Kinh tế Xanh là sự kết hợp giữa 3 thành tố: Kinh tế – Xã hội – Môi trường, là một nền kinh tế gắn liền với các vấn đề:
– Môi trường bền vững, dựa theo quan điểm rằng sinh quyển của chúng ta là một hệ thống khép kín với nguồn tài nguyên hữu hạn và một khả năng nhất định trong việc tự điều chỉnh và tự phục hồi. Chúng ta sống nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên trên trái đất, chính vì thế, con người cần phải tạo ra một hệ thống kinh tế biết tôn trọng sự toàn vẹn của hệ sinh thái và đảm bảo khả năng phục hồi của hệ thống hỗ trợ cuộc sống.
– Công bằng xã hội, dựa theo quan điểm rằng văn hóa và phẩm giá con người, cũng giống như nguồn tài nguyên thiên nhiên, là tài nguyên quý giá, đòi hỏi quản lý trách nhiệm để chúng không bị mai một. Chúng ta cần thiết lập một nền kinh tế sôi động đảm bảo cho tất cả mọi người một cuộc sống tươm tất và có đủ cơ hội cho việc phát triển cá nhân cũng như xã hội.
– Bắt nguồn từ địa phương, người ta cho rằng đặt ra một sự kết nối đáng tin cậy là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững và công bằng. Kinh tế Xanh là một tổng hợp toàn cầu của mỗi cộng đồng nhằm đáp ứng những nhu cầu của chính các công dân trong cộng đồng ấy, thông qua việc chịu trách nhiệm sản xuất của địa phương và việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
Theo UNEP, nền kinh tế Xanh bao gồm 5 ngành kinh tế chủ chốt, đó là:
– Năng lượng bền vững;
– Công trình xanh – Xây dựng tòa nhà tiết kiệm năng lượng;
– Giao thông bền vững;
– Quản lý nước sạch và môi trường sinh thái;
– Nông nghiệp bền vững và bảo đảm an ninh lương thực.

1.3. Vai trò của phát triển Kinh tế Xanh
1.3.1. Kinh tế Xanh đóng vai trò quan trọng trong Phát triển bền vững
“Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Từ cuối những năm 80, thuật ngữ này đã gây được sự chú ý từ dư luận quốc tế sau khi xuất hiện trong bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, một báo cáo mang tính bước ngoặt của Ủy ban Brundtland; và tiếp tục gây được tiếng vang tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 (Rio 1992), được coi như là một nguyên tắc quyết định về phát triển bền vững. Phát triển bền vững đòi hỏi sự tiến bộ và tăng cường sức mạnh của cả ba yếu tố có tính chất phụ thuộc và tương hỗ: Kinh tế – Xã hội – Môi trường.
Chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh có thể là một động lực quan trọng trong nỗ lực này. Thay vì bị coi như là nơi hấp thụ chất thải tạo ra bởi các hoạt động kinh tế một cách thụ động, thì trong nền Kinh tế Xanh môi trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài.
Trong nền Kinh tế Xanh, nhân tố môi trường có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Ngoài ra, khi mà sinh kế của một bộ phận người dân có mức sống dưới mức nghèo khổ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, hơn nữa họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu, việc chuyển đổi sang nền kinh tế Xanh cũng góp phấn cải thiện sự công bằng xã hội, và có thể được xem như là một hướng đi tốt để phát triển bền vững.
Theo kết qủa nghiên cứu của các tác giả trong tài liệu “Hướng tới nền Kinh tế Xanh” do chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011, mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu (Khoảng 1300 tỷ USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) tương đương với số tiền 350 tỷ USD được đầu tư cho các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nước sạch và thủy sản. Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính toán và chỉ ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền Kinh tế Xanh sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu. Mặt khác sự đầu tư đó sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết sự thịnh vượng cho tương lai.
Như vậy xây dựng một nền Kinh tế Xanh cũng không thay thế và mâu thuẫn với “Phát triển bền vững”. Phát triển bền vững nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ), còn xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa chúng ta tới đích của phát triển bền vững.

1.3.2. Kinh tế Xanh bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học
– “Xanh hóa” các ngành kinh tế sẽ làm giảm thiểu đáng kể lượng khí thải nhà kính
Chỉ cần đầu tư khoảng 1.25% GDP toàn cầu vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các ngành và phát triển năng lượng tái tạo, bao gồm cả nhiên liệu sinh học thế hệ hai, mức độ tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể giảm đi 36% vào năm 2030 và lượng khí CO2 thải ra hàng năm sẽ giảm từ 30,6 tỷ tấn năm 2010 xuống 20 tỷ tấn năm 2050. Thêm vào đó, nhờ vào nông nghiệp xanh, kịch bản Kinh tế Xanh ước tính có thể giảm nồng độ khí thải xuống 450 ppm vào năm 2050, một mức độ được cho là hợp lý và đủ để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng 20C.
– Một nền Kinh tế Xanh duy trì và tăng cường các dịch vụ sinh thái
Các khoản đầu tư xanh trong các lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp sẽ giúp đảo ngược xu thế suy giảm đất lâm nghiệp hiện nay, tái tạo khoảng 4,5 tỷ ha nguồn tài nguyên quan trọng này trong vòng 40 năm tới. Đầu tư vào nông nghiệp xanh vừa nâng cao năng suất, sản xuất ra nhiều lương thực hơn vừa giúp giảm lượng đất sử dụng cho nông nghiệp và chăn nuôi 6% vào năm 2050, cải thiện chất lượng đất nông nghiệp nên 25%.
Ngoài ra, đầu tư để tăng nguồn cung cấp nước và mở rộng khả năng tiếp cận, trong khi cải thiện quản lý, sẽ cung cấp thêm 10% nguồn cung nước toàn cầu trong cả ngắn hạn và dài hạn, thêm vào đó có thể góp phần duy trì nguồn tài nguyên nước ngầm và nước mặt.
Trong lĩnh vực thủy sản, hạn chế việc khai thác quá mức sẽ giúp phục hồi lượng cá vào năm 2050 tới 70% so với lượng cá năm 1970; trong khi nền kinh tế thông thường, lượng cá sẽ bị sụt giảm đi 30% so với năm 1970. Những đầu tư vào “cơ sở hạ tầng sinh thái” giúp phục hồi hệ sinh thái của trái đất và cũng để nâng cao đời sống con người.
– Một nền Kinh tế Xanh đạt được hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên
Trong mô phỏng, nhờ các khoản đầu tư hỗ trợ cho Kinh tế Xanh, vào năm 2050, trữ lượng cá có khả năng tăng gấp đôi, diện tích đất lâm nghiệp lên một phần năm (20%) so với mô hình kinh tế thông thường (BAU). Đồng thời, cũng sẽ làm giảm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch khoảng 40%, giảm nhu cầu về nước khoảng 20%.
Bằng cách duy trì và tích lũy các nguồn vốn tự nhiên và làm giảm việc phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng khan hiếm, các khoản đầu tư sẽ làm nền cho viêc tăng cường nhân lực tốt, và duy trì tăng trưởng kinh tế trong vòng 20 đến 40 năm tiếp theo; mặc dù không được mạnh mẽ như BAU nhưng Kinh tế Xanh đảm bảo hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đối với tài nguyên và môi trường.
1.3.3. Phát triển Kinh tế Xanh có thể tạo ra việc làm
Nền Kinh tế Xanh có khả năng tạo ra việc làm trong một loạt các lĩnh vực mới nổi và nhiều tiềm năng, chẳng hạn như nông nghiệp hữu cơ, năng lượng tái tạo, giao thông công cộng, cải tạo các khu công nghiệp, tái chế… Các công việc có năng suất lao động cao, cùng với hiệu quả về cải thiện môi trường sinh thái và ổn định lượng khí thải ra ở mức thấp, sẽ góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng và giúp bảo vệ môi trường – khí hậu. Đã có rất nhiều những việc làm xanh như vậy được tạo ra, đặc biệt là trong ngành năng lượng tái tạo. Đó là những việc làm đóng góp vào việc bảo vệ và giữ gìn chất lượng môi trường, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững cho cả hiện tại và tương lai, thực hiện công bằng và bình đẳng cho mọi người. “Việc làm xanh” ngày càng thể hiện rõ nền tảng xã hội vững chắc của nó. Ở châu Âu, một nửa người tiêu dùng khi mua hàng đã cân nhắc lựa chọn những sản phẩm xanh. Ở Đức, 85% các DN sản xuất hàng tiêu dùng đã công khai cam kết thu hồi bao bì của sản phẩm do mình sản xuất. Công ty xe hơi Nissan của Nhật Bản quyết định sau năm 2000, các loại xe hơi do công ty này bán ra có tỷ lệ thu hồi cao đến 90%. Quyết định này làm cho 2500 nhân viên phải chuyển công tác và thu hút thêm 500 lao động từ bên ngoài.

1.3.4. Kinh tế Xanh có thể giúp xóa đói giảm nghèo
Hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn được sử dụng như là cách thức phổ biến nhất để đánh giá một nền kinh tế. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó thường được tạo ra thông qua việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên là tài sản “chung” như tài nguyên nước, rừng, không khí là nguồn cung cấp cần thiết cho sự sống. Để có tăng trưởng (theo định nghĩa này), chúng ta phải trả giá rất đắt trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội, đặc biệt là một bộ phận những người mà sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực môi trường. Suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái các hệ sinh thái đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt cá, lâm nghiệp – sinh kế của đa số dân nghèo trên thế giới phụ thuộc hầu hết vào các ngành này.
Một điều quan trọng nữa là với mục đích tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và cải thiện cơ sở hạ tầng. Hướng tới nền Kinh tế Xanh được coi như là một trong những phương thức nhằm xóa đói giảm nghèo và cải thiện tổng thể chất lượng cuộc sống. Chẳng hạn như cung cấp các nguồn năng lượng có khả năng hỗ trợ cho 1,4 tỷ người hiện đang thiếu điện và cho hơn 700 triệu người khác hiện đang không được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại. Công nghệ năng lượng tái tạo, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các chính sách hỗ trợ năng lượng hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể cho việc cải thiện đời sống và sức khỏe cho một bộ phận người dân có thu nhập thấp, đặc biệt là cho những người hiện đang không có khả năng tiếp cận với năng lượng.
Một điều khác mà chúng ta cần cân nhắc là việc ngừng hoặc chuyển hướng các khoản trợ cấp cho việc hủy hoại môi trường. Trên thực tế, khoảng 700 tỷ USD được chi ra mỗi năm bởi các chính phủ trên khắp thế giới để trợ cấp cho việc sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch; khoản chi này lớn gấp năm lần tổng số tiền dành cho hỗ trợ phát triển. Gỡ bỏ các khoản trợ cấp gây hại môi trường hoặc thay thế bằng các loại hỗ trợ hướng đến các mục tiêu cụ thể hơn là cách tốt để góp phần thực hiện mục tiêu xã hội và cải thiện môi trường.

1.4. Các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế Xanh
Một loạt các chỉ số có thể giúp đo lường các quá trình chuyển đổi hướng tới một nền Kinh tế Xanh. UNEP phối hợp với các đối tác như OECD và WB để phát triển một bộ các chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu phù hợp tùy thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, chẳng hạn như cấu trúc của nền kinh tế hay nguồn vốn tự nhiên. Các chỉ số đang được phát triển này có thể được tạm chia thành ba nhóm sau đây:
– Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ sản lượng và việc làm trong các lĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như GDP xanh.
GDP xanh là chỉ số được tính bằng cách lấy chỉ số GDP truyền thống trừ đi các chỉ số về cạn kiệt tài nguyên và thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những thập kỷ qua chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, tăng trưởng liên quan đến các ngành công nghiệp gây ô nhiễm và cường độ sử dụng lượng cao. Chỉ số GDP xanh cho phép chúng ta có được những chính sách tăng trưởng bền vững hơn, tránh tình trạng tăng trưởng bất chấp mọi giá.
– Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về ô nhiễm ở mức độ ngành hoặc toàn nền kinh tế (ví dụ như hệ số sử dụng năng lượng/GDP, hoặc hệ số sử dụng nước/GDP)
– Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: ví dụ như các chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài định nghĩa hẹp của GDP bình quân đầu người.

CHƯƠNG 2 – THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
2.1. Ở các nước phát triển
2.1.1. Nhận định của các nước phát triển về Kinh tế Xanh
Tuy có mức độ quan tâm và triển khai trên thực tế khác nhau, nhìn chung các nước phát triển đều ủng hộ phát triển Kinh tế Xanh, coi đây là một trong những nội dung tái cơ cấu kinh tế nhằm phục hồi nền kinh tế trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như duy trì lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới. Ưu tiên phát triển kinh tế xanh của các nước phát triển chủ yếu tập trung vào ba lĩnh vực:
– Công trình tiết kiệm năng lượng
– Năng lượng tái tạo
– Giao thông bền vững
Đáng chú ý, sau khủng hoảng 2008-2009 nhiều nước phát triển đã dành một khoản ngân sách đáng kể trong các gói kích thích kinh tế cho các lĩnh vực kinh tế xanh. Ví dụ, Mỹ dành 95 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế trị giá hơn 700 tỷ USD để phát triển các ngành năng lượng tái tạo và sản xuất tiết kiệm năng lượng với mục tiêu đến năm 2025, các loại năng lượng tái tạo sẽ chiếm 25% lượng phát điện; các nước EU đầu tư 105 tỷ Euro vào kinh tế xanh với mục tiêu giảm 20% lượng khí thải nhà kính, tăng năng lượng tái tại lên 20% trong tổng tiêu thụ năng lượng của cả khối vào năm 2020. Tính trung bình, tỷ lệ đầu tư vào các ngành kinh tế xanh chiếm 14% giá trị các gói kích thích kinh tế của các nước trong thời gian qua. Bên cạnh đầu tư vốn, các nước phát triển chú trọng sử dụng các chính sách đòn bẩy, đặc biệt là thuế và hạn ngạch khí thải để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu sản xuất và tiêu dùng sang các ngành, các lĩnh vực và sản phẩm nhằm xanh hóa nền kinh tế.
Tuy có lợi thế về vốn và công nghệ song các nước phát triển cũng gặp phải những thách thức nhất định trong phát triển kinh tế xanh. Do các gói kích thích kinh tế thường nhắm vào mục tiêu ngắn hạn (khôi phục việc làm, kích thích tăng trưởng kinh tế…), việc hài hòa các mục tiêu này với mục tiêu tái cơ cấu kinh tế (bao gồm phát triển kinh tế xanh) là không dễ dàng. Hơn nữa, khủng hoảng và bất ổn nợ công tại nhiều nước phát triển (Châu Âu, Mỹ) khiến nhiều chính phủ phải tập trung đối phó với khủng hoảng hơn là thúc đẩy kinh tế xanh. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế xanh được đánh giá là sẽ “đụng chạm” tới các nhóm lợi ích có nhiều ảnh hưởng như các tập đoàn năng lượng, sản xuất xe hơi, ngân hàng, bảo hiểm.
Bên cạnh thúc đẩy kinh tế xanh trong nước, nhiều nước phát triển sử dụng kinh tế xanh như công cụ để tạo lợi thế trong quan hệ kinh tế quốc tế với các biện pháp:
– Đưa ra các yêu cầu về phương pháp sản xuất/khai thác và chế biến sản phẩm không gây ảnh hưởng đến môi trường, tiêu biểu như trường hợp Mỹ cấm nhập khẩu cá ngừ của Mexico và tôm của Thái Lan với lý do các nước này sử dụng phương tiện đánh bắt làm ảnh hưởng đến loài rùa biển; Đức cấm nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của Phần Lan do các sản phẩm này được sản xuất từ bột giấy được lấy từ rừng nguyên sinh ở Indonesia… Từ tháng 6/2009, Mỹ đã áp dụng đạo luật hiệu ứng nhà kính, trong đó có điều khoản áp đặt thêm các rào cản đối với các mặt hàng nhập khẩu có khối lượng khí thải các-bon cao như xi-măng, thép, giấy và kính từ các nước gây khí thải.
– Áp dụng chính sách bảo hộ đối với các ngành kinh tế sạch. Để cạnh tranh với các nước đang phát triển, một số nước phát triển như Italia đã ban hành luật trợ cấp năng lượng mặt trời, trong đó đưa ra thêm 5–10% trợ cấp ưu đãi cho các thiết bị năng lượng mặt trời được sản xuất ở châu Âu. Canada quy định một tỷ lệ lớn các thiết bị năng lượng mặt trời được sản xuất ở Ontario mới được hưởng ưu đãi về giá bán điện năng sản xuất ra từ nguồn năng lượng tái tạo.
– Gắn các điều kiện môi trường vào các thỏa thuận kinh tế với các nước đang phát triển: ngoài việc tăng cường gắn các điều kiện môi trường vào các khoản ODA cho các nước đang phát triển, các nước phát triển cũng chủ động lồng ghép các nội dung môi trường vào các hiệp định kinh tế song phương và đa phương. Ví dụ, các nước phát triển thúc đẩy đàm phán hàng hóa môi trường trong khuôn khổ WTO; EU coi các tiêu chuẩn môi trường là một trong những nội dung của các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
2.1.2. Chính sách và các mô hình phát triển kinh tế xanh của một số nước phát triển
2.1.2.1. Mỹ
Trong gói kích thích kinh tế năm 2009, Mỹ dành khoảng 100 tỷ USD trong 4 năm để đầu tư cho phát triển nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng; đầu tư 6 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng nước sạch trong 2 năm 2009-2010.
Mỹ cũng đã thông qua các tiêu chuẩn mới về khí thải, yêu cầu các công ty sản xuất ô tô chuyển sang các xe kết hợp vừa chạy điện vừa chạy xăng, song song với việc cải tiến động cơ để tiết kiệm nhiên liệu. Trong đó có quy định năm 2016, xe hơi không được phép tiêu thụ quá 6,6 lít xăng/ 100 km, từ 9,4 lít/ 100 km như hiện nay. Với biện pháp này Mỹ sẽ tiết kiệm được gần 2 tỷ thùng dầu mỗi năm, đồng thời giảm được 30% khí thải xả ra môi trường. Trong ngày Trái Đất 22/04/2009, Chính Phủ Mỹ đã thông báo sẽ dành 300 triệu USD trong khoản kích thích kinh tế Liên bang để giúp các thành phố và thị trấn mua thêm các phương tiện giao thông tiết kiệm nhiên liệu.
Bên cạnh đó, để giảm dần phụ thuộc nhập khẩu dầu từ nước ngoài và sự biến đổi khí hậu toàn cầu, Chính phủ Mỹ quyết định áp dụng kế hoạch “Khống chế lượng thải khí cac-bon thương mại” và tiến hành bán đấu giá các sản phẩm hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Một phần số tiền bán đấu giá bình quân mỗi năm là 15 tỷ USD, được dùng vào việc khuyến khích phát triển nguồn năng lượng sạch và cải thiện hiệu quả đầu tư vào năng lượng.
Một chương trình triển khai dự án ngoài khơi sản xuất điện từ tuốc-bin gió và dòng hải lưu đang được nghiên cứu triển khai, và dự kiến tạo ra 250.000 việc làm.
Theo bộ Năng lượng Mỹ, đến năm 2020, nhu cầu điện trung bình sẽ giảm 15; đến năm 2030 người tiêu dùng sẽ phải tiết kiệm 130 tỷ USD cho chi phí năng lượng và cắt giảm 5 tỷ tấn các-bon thải ra.
2.1.2.2. Các nước EU
Ngày 9/03/2011, EU đã công bố chính sách “Gắn kết Châu Âu”, đầu tư 105 tỷ Euro vào kinh tế xanh. Số tiền này lớn gấp 3 lần so với số tiền đã được chi cho giai đoạn 2002-2006. Trong chính sách này, EU đưa ra nhiều mục tiêu tham vọng về cuộc chiến chống biến đổi khí hậu trong đó có việc giảm đến 20% lượng khí thải nhà kính, tăng năng lượng tái sinh lên 20% trong tổng tiêu thụ năng lượng của EU vào năm 2020. Gần một nửa các quốc gia thành viên của EU (bao gồm Áo, Bun-ga-ri, Séc, Pháp, Đức, Hung-ga-ri, Italia, Ba-lan, Bồ Đào Nha, Ru-ma-ni, Slo-va-ki-a và Anh) đã đưa các chỉ số giảm lượng khí thải nhà kính vào chương trình gắn kết của quốc gia mình.
Anh thành lập một văn phòng về các phương tiện vận tải phát thải thấp, và đã công bố dành 4 triệu Bảng cho việc nghiên cứu áp dụng công nghệ phát thải thấp như xe sạc điện, xe lai sạc điện ( Plug-in hybrid), xe chạy bằng khí hyđrô. Chính phủ Anh sẽ hỗ trợ tiền mua loại xe này và sẽ xây dựng những trạm nạp điện để khuyến khích việc sử dụng các loại phương tiện này. Anh cũng áp đặt mức phí vào nội thành cho các phương tiện giao thông, trung bình 10 bảng 1 ngày. Mức phí này được miễn với các phương tiện chạy điện và phát thải thấp. Số tiền thu được sử dụng để nâng cấp hệ thống vận tải công cộng như xe buýt và metro.
Rumai và Bungary đầu tư nhiều nhất vào các dự án liên quan đến môi trường tương ứng với 45% và 42% của toàn bộ ngân sách 2 quốc gia này. Hai nước này dành phần lớn ngân sách cho hàng trăm dự án môi trường lớn, đóng góp vào việc bảo vệ và tạo mới công việc trong chính EU.
Đức là nước xây dựng chiến lược nền kinh tế “năng lượng xanh” đầu tiên trên thế giới. Theo đó, nước này đang có nhiều nỗ lực để trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới sử dụng 100% năng lượng xanh tái tạo và hướng tới “mục tiêu xanh” vào năm 2050. Bộ Môi trường Đức đã công bố Bản lộ trình mới phác thảo tiến trình thực hiện các kế hoạch hướng tới một nền kinh tế sử dụng hoàn toàn năng lượng tái tạo. Năm 2008, năng lượng tái tạo chiếm 7% tổng lượng tiêu thụ năng lượng gốc của Đức. Nhưng con số dự đoán sẽ tăng lên 33% vào năm 2020 khi nước này nhanh chóng vượt lên các quốc gia châu Âu khác trong phát triển năng lượng tái tạo.
Bản lộ trình của Đức đã nêu nhiều biện pháp, kế hoạch nâng cao hiệu suất năng lượng, trong đó có việc xây dựng mạng lưới “điện thông minh”, giảm tiêu thụ điện năng khoảng 28% trong vòng 20 năm tới, từ 384,5 tỉ kWh năm 2007 xuống 333,3 tỉ kWh vào năm 2020 và 277,7 tỉ kWh vào năm 2030. Thực hiện kế hoạch giảm tiêu thụ năng lượng, nước Đức sẽ tiết kiệm được hàng tỉ USD chi trả cho nhập khẩu năng lượng.
Ước tính đến năm 2030, nước Đức sẽ có tới 50% năng lượng điện tiêu thụ lấy từ nguồn năng lượng tái tạo. Dự báo khoảng 20 năm nữa, một “mạng lưới thông minh” kết nối với toàn bộ mạng lưới điện châu Âu sẽ được thiết lập. Bản lộ trình của Đức đã lên kế hoạch cho biết, đến năm 2020 xe hơi điện sẽ sử dụng pin sạc bằng năng lượng tái tạo, làm giảm nhu cầu về xăng dầu và làm giảm lượng phát thải các loại khí nhà kính. Đức có nhiều tài nguyên năng lượng tái tạo để thực hiện lộ trình “năng lượng xanh”. Riêng tài nguyên gió ở Đức đã và đang được khai thác tốt nhất. Bên cạnh đó, năng lượng tái tạo là năng lượng sinh học cũng sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong ngành năng lượng quốc gia, nhưng nguồn năng lượng sinh học phụ thuộc vào sự phát triển những loại cây trồng không cạnh tranh với các loại cây lương thực khác. Với rất nhiều các dự án nghiên cứu đang được khởi động, nước Đức được kỳ vọng sẽ có nhiều bước đột phá hơn nữa nhằm trở thành nền kinh tế năng lượng xanh đầu tiên của thế giới.
2.1.2.3. Canada
Tháng 4/2007, Chính phủ Canada đã công bố kế hoạch về biến đổi khí hậu, đưa ra mục tiêu cắt giảm 20% khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2020, lấy năm 2006 là điểm xuất phát.
Vào tháng 1/2009, Chính phủ Canada cũng đã công bố Kế hoạch hành động về kinh tế với ngân sách tiêu dùng là 40 tỷ CAD, tương đương với 1/5 GDP năm 2009. Khoản ngân sách này nhắm đến các dự án sẽ triển khai trong mùa xây dựng tới như đường sá, cầu cảng, năng lượng sạch, hệ thống internet băng thông rộng…
Canada sẽ đầu tư trong vòng 5 năm tới cho các nghiên cứu về năng lượng ít các-bon. Ngoài ra Canada cũng đầu tư 351 triệu CAD vào Công ty năng lượng Nguyên tử Canada trong vòng 2 năm. Đây cũng là quốc gia duy nhất đưa năng lượng nguyên tử vào gói kích thích kinh tế của mình.
Về tiết kiệm năng lượng, gói kích thích kinh tế của Canada đã dành 300 triệu CAD trong vòng 2 năm cho chương trình Retrofit ecoENERGY nhằm hỗ trợ thêm thiết bị tiết kiệm năng lượng bổ sung cho 200.000 hộ gia đình. Một triệu CAD cũng được dành cho Quỹ Cơ Sở Hạ Tầng Xanh trong vòng 5 năm giúp hiện đại hóa các đường dẫn năng lượng, trong đó có đường tải điện và các năng lượng tái sinh khác. Ngoài ra 0,5 triệu CAD cũng được đầu tư trong vòng 5 năm vào đường tàu hỏa liên thành phố.
Trong vòng 2 năm (2009 và 2010), Chính phủ Canada dành 165 triệu CAD cho các dự án xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng về nước thải và nước uống.
Theo tính toán của Chính phủ Canada, kế hoạch hành động này có thể giúp phát triển nhanh năng lượng sạch, đồng thời trong vòng 5 năm nữa khoảng 407,000 việc làm mới có thể được tạo ra.
2.1.2.4. Hàn Quốc
Ngày 15/08/2008, Hàn Quốc đưa ra chính sách “Tăng trưởng xanh, ít các-bon” với tầm nhìn cho 60 năm tiếp theo nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế với 3 nguyên tắc: (i) duy trì hoạt động kinh tế hiệu quả trong khi tối thiểu hóa sử dụng năng lượng và tài nguyên, (ii) Tối thiểu hóa áp lực về môi trường với việc sử dụng mỗi nguồn năng lượng và tài nguyên, (iii) Đầu tư vào môi trường, một công cụ để phát triển kinh tế.
Sau khi ban hành chính sách, Hàn Quốc đã đưa ra một loạt sáng kiến xanh gồm: (i) Kế hoạch năng lượng cơ bản quốc gia đầu tiên (2008- 2030) với mục tiêu tăng phần trăm của năng lượng tái sinh lên 11% vào năm 2030; (ii) Kế hoạch toàn diện chống lại biến đổi khí hậu; (iii) Kế hoạch nghiên cứu và phát triển tòan bộ về công nghệ xanh, với mục tiêu tăng gấp 2 lần khoản chi cho nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh vào năm 2012 ( 178 triệu USD năm 2008), tập trung vào 27 lĩnh vực công nghệ chính như dự đoán biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình, tấm năng lượng mặt trời điện quang, đi-ốt phát quang LED, tái sử dụng rác thải, lưu trữ các-bon… Để triển khai, Hàn Quốc đã thành lập Ủy ban điều hành về Tăng trưởng xanh do Thủ Tướng Hàn Quốc và Giáo sư Kim Hyung Gook làm đồng chủ tịch, bao gồm 47 thành viên từ các bộ hữu quan, các chuyên gia và đại diện khu vực tư nhân.
Tháng 1/2009, Hàn Quốc đã công bố gói kích thích kinh tế “Tăng trưởng xanh mới”. Theo đó, Chính phủ Hàn Quốc sẽ đầu tư khoảng 36 tỷ USD trong 4 năm tập trung với 9 dự án xanh chính và 27 dự án kinh tế liên quan khác từ nay đến 2012. Ngân sách năm 2009 xấp xỉ 2,6 % GDP năm. 9 dự án bao gồm: (1) Khôi phục 4 dòng sông chính, (2) Xây dựng hệ thống giao thông xanh, (3) xây dựng cơ sở dữ liệu vế lãnh thổ và tài nguyên quốc gia, (4) Quản lí nguồn tài nguyên nước, (5) ô tô xanh và chương trình năng lượng sạch hơn, (6) chương trình tái sinh tài nguyên, (7) quản lí rừng và chương trình sinh học, (8) nhà xanh, văn phòng xanh và trường học xanh, (9) phong cảnh và cơ sở hạ tầng xanh hơn.
2.2. Ở các nước đang phát triển
2.2.1. Nhận định của các nước đang phát triển về Kinh tế Xanh
Ở cấp độ quốc gia, một số nước đang phát triển, bao gồm các nước Đông Á và ASEAN đã đưa kinh tế xanh vào các kế hoạch và chương trình phát triển quốc gia trung và dài hạn: Singapore đưa ra Kế hoạch chi tiết phát triển bền vững với ngân sách 1 tỷ USD, dự kiến sẽ tạo ra 18.000 việc làm và đóng góp thêm 3,4 tỷ USD vào GDP từ lĩnh vực năng lượng sạch vào năm 2015; Indonesia đưa kinh tế xanh vào Chiến lược phát triển dài hạn (2005-2025) và Kế hoạch phát triển trung hạn lần hai (2010-2014); Philippines ban hành Chương trình phát triển xanh, tranh thủ hỗ trợ của ADB để phát triển các dự án tái chế và thải ít các-bon; Malaysia đã đưa ra chính sách phát triển công nghệ cao với trụ cột chính là năng lượng, môi trường, kinh tế và xã hội; Campuchia xây dựng Lộ trình quốc gia về tăng trưởng xanh (12/2009) tập trung vào bảo đảm quyền tiếp cận: nước sạch, năng lượng tái tạo, công nghệ thông tin, các phương tiện đi lại thuận tiện, tài chính và đầu tư, an ninh lương thực và các sản phẩm phi hóa chất, sử dụng đất bền vững… Trung Quốc dành khoảng 40% gói kích thích kinh tế vào các ngành kinh tế xanh, trong đó nhấn mạnh năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng, cam kết tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo lên 16% vào năm 2020.
Ngoài ra, một số nước đang phát triển tập trung vào từng lĩnh vực “xanh” cụ thể như phát triển nông nghiệp – nông thôn (Ấn Độ, Uganda), rừng (Nepal, Costa Rica), quản lý và bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn nước (Rwanda, Ấn Độ), phát triển năng lượng sạch, tái sinh (Ấn Độ, Trung Quốc, Tuynidi…), cắt giảm khí thải (Indonesia, Malaysia…).
Tại các diễn đàn quốc tế, các nước đang phát triển một mặt đánh giá cao những khía cạnh tích cực của Kinh tế Xanh như khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng bền vững, xóa đói giảm nghèo, thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), thúc đẩy hợp tác toàn cầu nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, các nước đang phát triển cũng bày tỏ những quan ngại về phát triển Kinh tế xanh:
– Hạn chế của các nước đang phát triển về năng lực phát triển kinh tế xanh như thiếu vốn, công nghệ, nhân lực… nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có xu hướng phục hồi chậm lại và đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Do hạn chế về năng lực, nhiều chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế xanh của các nước đang phát triển không đem lại hiệu quả mong muốn.
– Xu hướng tách rời kinh tế xanh ra khỏi phát triển bền vững: nhiều nước phát triển, trong đó có G77 tỏ ra lo ngại trước việc các nước phát triển và một số tổ chức quốc tế chỉ nhấn mạnh tới yếu tố môi trường trong phát triển kinh tế xanh mà không chú trọng tới hai yếu tố khác của phát triển bền vững là phát triển kinh tế và công bằng xã hội. G77 đề nghị khái niệm về kinh tế xanh phải gắn liền với khuôn khổ phát triển bền vững được thông qua tại Hội nghị Rio về phát triển bền vững năm 1992 và chương trình nghị sự 21 (Agenda 21).
– Gia tăng bất bình đẳng trong quan hệ kinh tế quốc tế, cụ thể là xu hướng các nước phát triển áp đặt các biện pháp bảo hộ và phân biệt đối xử đối với các nước đang phát triển đồng thời không thực hiện cam kết phát triển như đảm bảo vốn ODA tương đương với 0,7% GNP, hỗ trợ các nước đang phát triển trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ… Các nước đang phát triển đề nghị các nước phát triển tôn trọng nguyên tắc “Trách nhiệm chung nhưng không đồng đều” (common but differentiated responsibilities) trong các vấn đề phát triển và môi trường.
– Xu hướng “thị trường hóa” thiên nhiên: một số nước đang phát triển cho rằng khiếm khuyết của cơ chế thị trường, cụ thể là các thị trường và khu vực tư nhân luôn có xu hướng sử dụng quá mức các nguồn lực và nguồn tài nguyên là nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường hiện nay. Thay vì tăng cường cơ chế kiểm soát khu vực tư nhân gây ô nhiễm môi trường, việc cho phép mua bán “hạn ngạch ô nhiễm” lại càng khuyến khích các nước phát triển cũng như các công ty, tập đoàn lớn lẩn tránh trách nhiệm môi trường và khiến thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên trở thành hàng hóa mua bán, trao đổi

2.2.2. Chính sách và các mô hình phát triển kinh tế xanh của một số quốc gia đang phát triển
2.2.2.1. Trung Quốc
Từ năm 2004, để kiểm soát hoạt động kinh tế theo xu hướng “xanh”, Trung Quốc bắt đầu thiết lập hệ thống tính toán GDP xanh. Theo đó GDP được tính bằng GDP trừ đi chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế. Trung Quốc đã cho ra đời Luật sản xuất sạch năm 2003, Luật kinh tế tái sử dụng có hiệu lực từ 1/01/2009; quy định về đánh giá môi trường đối với các dự án nhằm tránh hiện tượng phá hủy môi trường ngay từ đầu vào tháng 8/2009. Trong giai đoạn 2005-2010, nhờ sử dụng công nghệ sản xuất năng lượng sạch, Trung Quốc đã tạo được thêm 445 triệu kW năng lượng mới, trong đó có 21,58% từ thủy điện và 0,86% từ điện nguyên tử; đã đóng cửa các nhà máy than cũ, quy mô nhỏ với tổng cộng 72,1 triệu kWh, xây dựng thêm nhiều nhà máy với năng suất cao và hiệu quả hơn từ các nhà máy cũ.
Trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, Trung Quốc đã dành một phần đầu tư vào lĩnh vực xanh, trong đó nhấn mạnh năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng, cam kết tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo lên 16% năm 2020. Bên cạnh đó nước này có chính sách đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển năng lượng tái tạo nhằm từng bước chuyển nhiều ngành sản xuất của nước này sang mô hình tăng trưởng sử dụng hiệu quả năng lượng theo 3 hướng chính: (1) hiện đại hóa các ngành nghề chủ chốt như thép, ô tô, xi măng, viễn thông… để có thể tiếp cận công nghệ mới; (2) chuyển các ngành sử dụng nhiều lao động và công nghệ trung bình – thấp sang các tỉnh miền Tây và ra nước ngoài; (3) Chấn chỉnh các nghành khai thác và sản xuất trong nước nhằm chủ động ứng phó với các cú sốc năng lượng trong tương lai…
Luật Năng lượng tái tạo của Trung Quốc (thông qua năm 2005) được coi là bộ luật định hướng cho sự phát triển của ngành này. Bộ Luật này cung cấp một loạt các ưu đãi tài chính, chẳng hạn như một quỹ quốc gia để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, cho vay, ưu đãi về thuế cho các dự án năng lượng tái tạo; yêu cầu các nhà khai thác lưới điện mua các nguyên liệu từ các nhà sản xuất năng lượng tái tạo đã đăng ký.
Sự kết hợp giữa đầu tư và các chính sách ưu đãi tạo điều kiện cho những bước tiến lớn trong việc phát triển năng lượng gió và năng lượng mặt trời của Trung Quốc.
Năng lượng gió
Từ năm 2005 – 2009, tốc độ tăng trưởng hàng năm công suất phát điện từ năng lượng gió đều hơn 100%. Cùng với việc lắp đặt thêm (năm 2009) nâng tổng công suất thêm 13,8 GW, Trung Quốc đã trở thành nước dẫn đầu thế giới về công suất bổ sung và thứ 2 thế giới (sau Mỹ) về công suất lắp đặt. Tham vọng phát triển ngành này còn thể hiện ở mục tiêu tăng công suất lắp đặt từ 30 GW lên 100 GW năm 2020 của chính phủ.
Để trực tiếp khuyến khích sản xuất tua-bin gió ở các địa phương, Trung Quốc đã thực hiện chính sách khuyến khích liên doanh và chuyển giao công nghệ trong công nghệ tua-bin gió lớn và bắt buộc sử dụng các sản phẩm tua-bin gió của địa phương trong các công trình. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng trợ cấp chi phí R&D (nghiên cứu và phát triển) cho việc sản xuất năng lượng gió, đặc biệt năm 1996 đã thành lập Quỹ năng lượng tái tạo. Các nhà sản xuất tua-bin gió địa phương như Sinovel Wind, Goldwind Science và Technology, and Dongfang Electric, tới năm 2008, đã chiếm hơn một nửa thị trường, vốn bị chi phối bởi các nhà cung cấp nước ngoài.
Năm 2006, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia Trung Quốc đã ban hành các biện pháp tạm thời về quản lý thuế và phân bố phí năng lượng tái tạo. Cùng với Luật Năng lượng tái tạo, các quy định khuyến khích giảm giá năng lượng gió quy định rằng một mô hình giá cả cạnh tranh đấu thầu được sử dụng cho thị trường điện gió ở Trung Quốc.
Điện mặt trời
Trung Quốc là nhà sản xuất pin (PV) năng lượng mặt trời lớn nhất của thế giới, đáp ứng 45% nhu cầu PV năng lượng mặt trời toàn cầu (năm 2009). Thị trường trong nước về năng lượng mặt trời đã bắt đầu phát triển những năm gần đây, với khoảng 160 MW PV năng lượng mặt trời được cài đặt và kết nối với lưới điện trong năm 2009.
Trung Quốc hiện là thị trường lớn nhất thế giới về năng lượng nước nóng mặt trời, chiếm gần hai phần ba tổng lượng tiêu thụ toàn cầu. Hơn 10% hộ gia đình ở Trung Quốc sử dụng thiết bị đun nước nóng mặt trời với hơn 160 triệu m2 diện tích lắp đặt. Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp sản xuất bình nước nóng năng lượng mặt trời mang lại lợi nhuận cho cả các nhà sản xuất lẫn các hộ gia đình.
Việc làm
Đến hết năm 2009, lĩnh vực năng lượng tái tạo tạo ra sản phẩm trị giá 17 tỷ USD và sử dụng khoảng 1,5 triệu lao động, trong đó 600 nghìn lao động trong ngành nhiệt mặt trời, 266 nghìn trong ngành năng lượng sinh học, 55 nghìn trong ngành điện mặt trời và hơn 22 nghìn trong ngành năng lượng gió. Chỉ trong năm 2009, ước tính có trên 300,000 việc làm mới đã được tạo ra.
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy một ví dụ về tăng trưởng trong lĩnh vực năng lượng tái tại, có thể tạo ra công ăn, việc làm và tạp thu nhập trong ngành công nghiệp xanh.

2.2.2.2. Ấn Độ
Ấn Độ quan niệm phát triển bền vững đi liền với bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và kiểm soát tài nguyên. Theo đó, Ấn Độ đã xây dựng chính sách tổng thể về bảo tồn nguồn nước, kiểm soát rừng, đầu tư hạ tầng sinh thái, xây dựng chiến lược năng lượng tái sinh, khuyến khích các ngành, lĩnh vực kinh tế sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Để xây dựng hạ tầng sinh thái nông thôn, Ấn Độ đã thông qua Luật bảo đảm việc làm cho nông thôn (NREGA) năm 2005, chú trọng vào việc cải thiện đời sống dân nghèo nông thôn, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ xây dựng lại hệ sinh thái nông thôn, bảo tồn nguồn nước. Trong hơn 2 năm đầu thực hiện, NREGA đã tạo ra hơn 3,5 tỷ ngày công lao động, đạt trung bình hơn 30 triệu gia đình mỗi năm có việc làm. Chương trình việc làm này được thực hiện ở tất cả 615 huyện nông thôn của Ấn Độ, trong đó phụ nữ chiếm gần 1 nửa lực lượng lao động. Điểm nhấn ở đây là tạo ra việc làm sử dụng nhiều lao động, cấm sử dụng nhà thầu và máy móc.
Ngoài việc bổ sung lao động làm công ăn lương, mục tiêu thứ cấp của NREGA là tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên nông thôn. Điều này được thực hiện bằng cách hỗ trợ các công trình nông thôn vốn là nạn nhân của hạn hán, phá rừng và xói mòn đất, từ đó khôi phục lại cơ sở hạ tầng tự nhiên.
Là một trong những nhà sản xuất nông nghiệp hàng đầu của thế giới, Ấn Độ đã nhận thấy một sự đột biến về lượng nước tiêu thụ cho lĩnh vực nông nghiệp trong những năm qua. Chính vì thế, chiếm một nửa các dự án do NREGA hỗ trợ chính là các dự án về nước (850.000 dự án được tài trợ từ năm 2006 đến 2008). NREGA đào tạo và cung cấp việc làm cho các dân làng để họ tự phát triển các giải pháp xử lý nước, giải quyết tình trạng khan hiếm nước tại nơi họ sống. NREGA cũng hỗ trợ phục hồi một mạng lưới các bể chứa nước có niên đại hơn 500 năm tại một khu vực khô cằn chủ yếu. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc sản xuất cây trồng, vật nuôi, mà còn đã đóng góp vào bổ sung lượng nước ngầm.
Chỉ trong một thời gian ngắn, NREGA đã thành công trên khắp đất nước. Trong việc thúc đẩy tăng trưởng toàn diện và phục hồi cơ sở hạ tầng sinh thái, chương trình còn có một tác động mạnh đối với việc trao quyền cho nhóm người nghèo hoặc bị thiệt thòi. Trong vòng 3 năm, chương trình đã góp phần tăng mức lương trung bình cho người lao động nông nghiệp hơn 25%.
Một số chương trình khác Ấn Độ triển khai nhằm thực hiện định hướng phát triển bền vững:
Chiến lược năng lượng mới: nhằm giảm lệ thuộc vào nguồn dầu mỏ đang ngày càng cạn kiệt, Ấn Độ đang đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn năng lượng và đặt mục tiêu cho việc sản xuất năng lượng tái tạo sẽ chiếm 50 % năng lượng cả nước vào năm 2050 (hiện nay là 5%) . Ấn Độ là quốc gia duy nhất trên thế giới thiết lập Bộ năng lượng tái tạo và năng lượng mới trong cơ quan Chính phủ. Ấn Độ đang xây dựng chương trình hành động sản xuất 20.000 MW điện từ năng lượng mặt trời vào năm 2020.
Phát triển mạnh nhiên liệu sinh học: Ủy ban phát triển Nhiên liệu sinh học (NOVOD) thuộc Bộ Phát triển Nông thôn Ấn Độ đã lập dự án trồng và được Chính phủ quyết định đầu tư đến năm 2020 phát triển cây dầu mè (nguyên liệu cho công nghệ sản xuất diesel) trên diện tích 11,2 triệu ha đất thái hóa, bỏ hoang và các loại đất khác có thể canh tác, giai đoạn 2008-2009 là 3,1 triệu ha. Nếu chiết ép tốt, từ 3-3,5 kg hạt sẽ cho 1 lít dầu diesel sinh học thô, ngoài ra còn góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn, cải thiện môi trường, tạo việc làm giúp xóa đói giảm nghèo.
Sản xuất khí đốt từ mía: Ấn Độ ưu tiên dùng mía làm nguồn nguyên liệu để sản xuất khí Ethanol, nguồn năng lượng thay thế xăng dầu đem lại lợi nhuận đáng kể. Năm 2001, Ấn Độ sản xuất 7,6 triệu tấn Ethanol nguyên chất và trung bình 5% lượng Ethanol được pha trong xăng dầu căn cứ theo Viện định chuẩn Ấn Độ về xăng dầu.
Phát triển mạnh năng lượng gió: năng lượng gió của Ấn Độ phát triển rất mạnh kể từ khi trang trại năng lượng gió đầu tiên được xây dựng năm 1986 ở Mandivi với công suất chỉ có 55MW. Hiện Ấn Độ đã vượt Đan Mạch, đứng thứ 4 Thế giới chỉ sau Đức, Tây Ban Nha và Mỹ với sản lượng điện gió khoảng 4.300 MW/ năm. Dự kiến sản lượng điện gió của Ấn Độ sẽ lên tới 9.300 MW vào năm 2012, đây là 1 trong những lĩnh vực phát triển nhanh tại Ấn Độ.
Phát triển chương trình hạt nhân: Chính phủ Ấn Độ đặt mục tiêu tăng sản lượng điện hạt nhân từ 3% lên 13% trong tổng sản lượng điện nước này vào năm 2030, đến năm 2050, nguồn năng lượng hạt nhân sẽ tăng gấp 10 lần so với hiện nay, đáp ứng ¼ nhu cầu điện của cả nước. Ấn Độ hiện có khoảng 20 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động và dự kiến sẽ đầu tư 150 tỷ USD để xây thêm các nhà máy mới trên cả nước.

2.2.2.3. Singapore
Singapore là một trong những nước đi đầu thế giới trong xây dựng nền kinh tế xanh và bước đầu tiến tới chia sẻ kinh nghiệm với các nước khác.
Năm 2009, Chính phủ Singapore đã đưa ra Kế hoạch chi tiết Phát triển bền vững với ngân sách cam kết là 1 tỉ USD. Kế hoạch này dự kiến sẽ tạo 18.000 việc làm và đóng góp thêm 3,4 tỉ USD vào GDP quốc gia từ lĩnh vực năng lượng sạch năm 2015. Một số nội dung chính của Kế hoạch chi tiết là:
– Dành 680 triệu USD để nghiên cứu và phát triển năng lượng sạch ( đặc biệt là năng lượng mặt trời), công nghệ môi trường,…
– Tăng tỉ lệ các tòa nhà thân thiện với môi trường “Green Mark” từ 1% năm 2009 lên 8% năm 2030.
– Dẫn đầu trong lĩnh vực năng lượng mặt trời, xây dựng các tấm pin năng lượng mặt trời trên mái nhà của tất cả các tòa nhà Chính phủ.
– Phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ hoạt động xe ô tô điện…
Hiện nay, Singapore đang xây dựng nền kinh tế năng lượng thông minh (Smart Energy Economy) với 4 chiến lược trọng tâm
– Thúc đẩy thị trường cạnh tranh: Thông qua đặt mức giá năng lượng phù hợp và tránh trợ cấp cho các hộ gia đình và doanh nghiệp.
– Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.
– Xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng: Đặc biệt là nhà máy điện và hệ thống phân phối điện thông minh.
– Đầu tư vào nghiên cứu và cải tiến năng lượng.
2.2.2.4. Nepal
Áp dụng chính sách Rừng cộng đồng – hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Điều này đã góp phần quan trọng trong vệc khôi phục tài nguyên rừng Nepal nơi rừng chiếm 40% diện tích đất tự nhiên. Trong suốt thập kỷ 90, hàng năm diện tích che phủ rừng giảm 19%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2000-2005, sự suy giảm diện tích rừng không những đã được kiểm soát mà trái lại, diện tích rừng đã tăng trở lại với mức trung bình là 1,35% nhờ áp dụng hình thức cộng đồng. Với cách quản lý này, người sử dụng rừng tại địa phương được tổ chức thành các Nhóm sử dụng rừng cộng đồng (CFUGs), có nhiệm vụ hướng dẫn sử dụng và quản lý tài nguyên rừng dưới sự bảo trợ của chính quyền.
Kể từ năm 1980, đã có khoảng 14.000 nhóm CFUGs được thành lập, tự xây dựng kế hoạch hoạt động, đề ra quy định về việc khai thác rừng, định giá lâm sản quyết định mức sử dụng hoặc phân bổ thu nhập thặng dư thu được từ việc kinh doanh các sản phẩm của rừng. Mô hình này đã góp phần tạo nên việc làm và thu nhập từ rừng, duy trì nguồn nguyên liệu gỗ, loại nhiên liệu đáp ứng được khoảng ¾ nhu cầu năng lượng sử dụng trong các hộ gia đình tại Nepal, đồng thời thúc đẩy quản lý tài nguyên đất và nước, hướng đến phát triển bền vững, xanh hóa nền kinh tế.


CHƯƠNG 3 – PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM
3.1. Quan điểm của Việt Nam về phát triển kinh tế Xanh
– Thực trạng phát triển kinh tế kém bền vững tại Việt Nam
Nhận định từ chuyên gia: Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong vài thập kỷ qua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm đạt trên 7%, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể và cơ cấu kinh tế đang dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa… Đặc biệt, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước trên trường quốc tế đã được nâng cao. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chưa bền vững. Điều này thể hiện qua chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu càng cho thấy rõ điều này.
Theo số liệu thống kê từ Bộ Công Thương, năm 2011, Việt Nam có mức thu nhập bình quân đầu người đạt 1.300USD/người/năm. Mức thu nhập trung bình đầu người/năm chỉ bằng 1/10 mức thu nhập trung bình trên thế giới. Hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm suy thoái ở mức -11,54%, trong khi con số này ở các nước như là Nhật là -0,82%, Hàn Quốc là -1,79%.
Ngoài ra, công nghệ sản xuất nước ta còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng. Các ngành kinh tế “nâu” đang chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.
Trước đây, Việt Nam không đóng góp nhiều vào việc tích lũy khí nhà kính trong khí quyển và không gây ra biến đổi khí hậu toàn cầu. Tính theo đầu người hiện trung bình lượng phát thải khoảng 1,9 tấn CO2/đầu người, Việt Nam cũng chưa thể so sánh với tỷ lệ phát thải của các nước giàu. Tuy nhiên theo ước tính, tổng các mức phát thải của Việt Nam tăng hơn gấp đôi trong giai đoạn 2000 – 2020, nguyên nhân chủ yếu được coi là do tăng sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong giao thông, sản xuất công nghiệp và phát điện. Cùng với tốc độ tăng dân số, phát triển kinh tế trên nền tảng công nghệ còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ… thì dự báo đến năm 2030 Việt Nam sẽ phát thải khoảng 5 tấn CO2/đầu người. Do vậy cần có một chính sách phát triển kinh tế hợp lý để giảm phát thải khí nhà kính trong tương lai là điều mà Việt Nam đang hướng đến.
– Quan điểm của Việt Nam về định hướng phát triển kinh tế trong tương lai
Nhằm cải thiện tình hình trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra Dự thảo “Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam thời kỳ 2011-2020 và Tầm nhìn đến 2050”. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương nhận định, những năm qua phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tài nguyên với cường độ cao, hiệu quả thấp dẫn đến tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nặng. Trong khi, các ngành kinh tế thân thiện với môi trường chưa được phát triển. Hiện nỗ lực toàn cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính càng đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh chiến lược tăng trưởng… Do đó, Việt Nam phải điều chỉnh chiến lược tăng trưởng theo hướng tăng trưởng Xanh.
Ông Lê Công Thành – Cục trưởng Cục khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu- Bộ Tài nguyên và Môi trường chia sẻ: “Quan điểm của Việt Nam trước đây mới chỉ tập trung vào thích ứng và ứng phó với biến đổi khí hậu thì trong Dự thảo Chiến lược quốc gia và Biến đổi khí hậu 2011, bên cạnh các hoạt động về ứng phó với biến đổi khí hậu chúng ta đã xác định tầm nhìn đến năm 2050 có xét đến 2100 là Việt Nam trở thành một quốc gia thịnh vượng, văn minh, phát triển bền vững với nền kinh tế carbon thấp ”.
Ông Lê Công Thành cho biết thêm: Trong 9 nội dung chiến lược mà Dự thảo đưa ra thì nội dung về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất đã thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam trong việc hướng đến phát triển một nền kinh tế thấp carbon. Theo đó tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu đó là:
– Trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam sẽ rà soát qui hoạch và phát triển thủy điện hợp lý, đa mục tiêu, đến năm 2020 tổng công suất các nhà máy thủy điện đạt khoảng 13.000-15.000 MW, đến năm 2050 đạt khoảng 18.000-20.000 MW. Đồng thời phải sử dụng năng lượng tiết kiệm, đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt…đảm bảo an ninh năng lượng, tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo lên khoảng 5% tổng năng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2020 và khoảng 11% vào năm 2050.
– Đối với lĩnh vực giao thông vận tải, việc chuyển đổi sử dụng năng lượng mới, ít phát thải đạt 40% vào năm 2020 và 80% đến năm 2050…
– Trong quản lý chất thải phải tăng cường năng lực quản lý, xử lý và tái sử dụng nước thải sinh hoạt và công nghiệp, đến năm 2020 khoảng 90% tổng lượng chất thải đô thị phát sinh được thu gom và xử lý, trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng. Đến năm 2050 cùng với đảm bảo an ninh lương thực, năng lượng thì công tác phát triển khoa học và công nghệ cũng phải được nâng cao, phải đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Do vậy hướng tới nền “Kinh tế xanh” là lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên sự lựa chọn này cần phải nhìn nhận rõ những cơ hội và thách thức để định hướng cho phát triển.
3.2. Cơ hội và thách thức của Việt Nam trong phát triển kinh tế xanh
Dù là một trong những nước giàu về “vốn tự nhiên”, nhưng để hướng tới một nền kinh tế xanh, con người, công nghệ, nhận thức, vốn… sẽ là những rào cản tạo tạo khoảng cách lớn mà Việt Nam phải vượt qua.
3.2.1. Cơ hội
– Việt Nam có những điều kiện cơ bản tương đối thuận lợi để phát triển Kinh tế Xanh.
Việt Nam có môi trường sinh thái đa dạng, tài nguyên thiên nhiên phong phú, trong đó có tài nguyên nước và các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió… là những điều kiện tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế xanh. Các phân tích gần đây cho thấy, do nằm trong khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới, đường bờ biển dài hơn 3.200km, lãnh hải hơn 1 triệu km2, dân số hơn 90 triệu người thuộc nhóm dân số trẻ, chưa kể những “vốn tự nhiên từ thiên nhiên sẵn có”, Việt Nam có rất nhiều lợi thế trên lộ trình hướng tới nền kinh tế xanh. Các tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo tính theo kwh/m2/năm của Việt Nam tương đối cao: năng lượng mặt trời 1.300 -2.200, gió đạt 2.700-4.500 tại vùng đảo xa. Tiềm năng thủy điện nhỏ cho phép xây dựng hơn 600 trạm với tổng công suất hơn 1.300MW, tiềm năng năng lượng sinh học, sinh khối từ gỗ, phụ phẩm nông nghiệp… lên tới 15 triệu TOE (tấn dầu tương đương). Đặc biệt, Việt Nam có nhiều thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp (được coi là một trong những lĩnh vực kinh tế Xanh chủ chốt), cụ thể là kinh nghiệm đổi mới thành công hoạt động sản xuất nông nghiệp để trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới. Việt Nam có thể tận dụng thế mạnh về sản xuất nông nghiệp để vừa thúc đẩy “xanh hóa” mô hình kinh tế, vừa tích cực tham gia quá trình phát triển kinh tế xanh trên phạm vi toàn cầu.
Bên cạnh đó, Việt nam đang có những thay đổi cơ bản sau 24 năm “Đổi mới và mở cửa”, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một sự phát triển vì con người, những yếu tố đó được thực hiện trong một môi trường chính trị ổn định là cơ hội tốt cho triển khai thực hiện nền kinh tế xanh. Tiếp tục triển khai, thực hiện chiến lược phát triển Kinh tế – Xã hội giai đoạn 2011 – 2015, Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định: đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Kinh tế Việt nam liên tục tăng trưởng trong những năm vừa qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thế phát triển mới, hướng tới một nền kinh tế Xanh sẽ được sự đồng thuận cao của xã hội. Sau một thời gian phát triển từ khi đổi mới và mở cửa, người dân đã nhận thức được sự trả giá của mô hình phát triển của nền “kinh tế nâu”.
– Tận dụng lợi ích của kinh tế xanh để đối phó với các thách thức phát triển
Hiện nay mối quan tâm lớn nhất của cộng đồng thế giới là vấn đề biến đổi khí hậu. Việt Nam làm một trong những quốc gia có nguy cơ chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng. Xu hướng cộng đồng quốc tế quan tâm tới phát triển kinh tế xanh là cơ hội để đất nước ta tham gia hợp tác quốc tế nhằm đối phó với thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu gắn liền với bảo đảm an ninh lương thực. Việt Nam sẽ đón nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới trong nỗ lực chung giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới một nền kinh tế Xanh.
– Ở cấp độ song phương
Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược về thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nhà nước với Hà Lan là khuôn khổ hợp tác phù hợp với lợi ích cũng như tiềm năng, thế mạnh của cả hai bên. Vừa qua, Đan Mạch cũng đã đề xuất ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Đan Mạch trong lĩnh vực Biến đổi khí hậu, Môi trường, Năng lượng và Tăng trưởng xanh. Trong thời gian tới, đất nước ta còn có cơ hội tăng cường hợp tác với các nước đối tác tại khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản…), Châu Âu… vốn là các nước đối tác quan trọng, đồng thời có thế mạnh và quan tâm với phát triển Kinh tế Xanh nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng.

3.2.2. Thách thức
Bên cạnh những cơ hội như đã nêu ở trên, hướng tới nền kinh tế Xanh, Việt Nam sẽ gặp phải những thách thức đòi hỏi phải vượt qua như sau:
– Trước hết, về nhận thức, hiểu và nắm rõ khái niệm “Kinh tế Xanh” hiện nay ở Việt Nam vẫn còn hết sức mới mẻ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và phổ biến rộng rãi kiến thức trong tầng lớp lãnh đạo và người dân. Nếu không nhận thức đầy đủ, tính đồng thuận trong xã hội sẽ không đạt được, do vậy sẽ khó thực hiện.
– Thứ hai, về cách thức tiến hành, xây dựng mô hình mới – nền kinh tế Xanh, thay đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế có sự khác biệt như thế nào và bắt đầu từ đâu trong bối cảnh phát triển kinh tế Việt nam hiện nay là hết sức khó khăn. Tương tự nhiều nước đang phát triển, Việt Nam cũng phải đối mặt với thách thức về hạn chế nguồn lực, bao gồm cả vốn, công nghệ và nguồn nhân lực trong phát triển Kinh tế Xanh.
Thực tế công nghệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay so với thế giới phần lớn là công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn, việc thay đổi công nghệ mới phù hợp với nền kinh tế Xanh là thách thức không nhỏ nếu không có trợ giúp của các nước có công nghệ cao trên thế giới. Nhiều vùng nông thôn và khu vực miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiều khó khăn.
Về huy động nguồn vốn cho thực hiện mục tiêu “Xây dựng nền kinh tế Xanh”, mặc dù Việt nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích luỹ quốc gia so với các nước đã phát triển còn quá thấp.
– Cơ chế chính sách hướng tới thực hiện “Nền kinh tế Xanh” ở Việt nam hiện nay gần như chưa có, trong khi trên thế giới cũng mới đề xuất hướng tiếp cận. Việc rà soát lại cơ chế chính sách liên quan và sửa đổi bổ sung cho phù hợp với mô hình phát triển mới theo hướng cơ cấu lại ngành kinh tế và hướng tới nền kinh tế Xanh là thách thức không nhỏ.
– Kinh tế Việt Nam có độ mở lớn (tỉ lệ xuất nhập nhẩu chiếm khoảng 160% GDP), do đó dễ chịu tác động từ những biến đội của môi trường bên ngoài. Xu hướng điều chỉnh chính sách của một số nước trong quá trình phát triển Kinh tế Xanh như gia tăng các biện pháp bảo hộ gắn với môi trường, áp đặt các tiêu chuẩn môi trường trong các thỏa thuận kinh tế quốc tế… có thể gây ra những tác động không thuận tới nền kinh tế của Việt Nam.
Việc phát triển Kinh tế Xanh nhìn chung được đánh giá là cần thiết những là quá trình lâu dài và gặp nhiều thách thức. Ở cấp độ quốc gia, khả năng theo đuổi mô hình Kinh tế Xanh bị hạn chế đáng kể do thiếu hụt nguồn lực. Ở cấp độ quốc tế, còn tồn tại nhiều khác biệt giữa các quốc gia, từ quan niệm tới cách triển khai Kinh tế Xanh.

3.3. Định hướng và chính sách:
3.3.1. Định hướng:
Trong những năm tới, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vì vậy Việt Nam đã xác định rõ rằng không có con đường nào khác ngoài lựa chọn thúc đẩy tăng trưởng xanh. Điều này cũng đã được nhấn mạnh trong những văn kiện quan trọng nhất của đất nước và đang được hiện thực hoá khi chính phủ chính thức giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng Chiến lược phát triển xanh quốc gia.
– Dự thảo “Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam” thời kỳ 2011-2020 và Tầm nhìn đến 2050.
Đến năm 2020: GDP bình quân đầu người gấp đôi mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5 – 3% mỗi năm, giảm cường độ phát thải khí nhà kính 10-15% so với mức 2010; hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại và hiệu quả, trong đó giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 42-45% trong tổng GDP, yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%.
Đến năm 2030: Việt Nam đạt trình độ nước có thu nhập trung bình trên thế giới, thiết lập được đầy đủ nền tảng vật chất, kỹ thuật, nguồn nhân lực và thể chế phù hợp để thực hiện phổ biến phương thức tăng trưởng xanh. Giảm tổng mức phát thải khí nhà kính mỗi năm 2-3%; yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt ít nhất 50%.
Đến năm 2050: Năng lượng và công nghệ xanh được sử dụng.
Như vậy có thể thấy rõ định hướng của Việt Nam trên các phương diện:
– Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế dựa trên các hệ sinh thái;
– Đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng các bon thấp và ít chất thải;
– Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững;
– Phát triển dịch vụ môi trường và ngành công nghiệp tái chế.
3.3.2. Chính sách:
Để kích thích đầu tư xanh và hỗ trợ cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế Xanh, Chính phủ có thể xem xét đẩy mạnh việc áp dụng một số chính sách, từ các công cụ điều tiết kinh tế, các quan hệ đối tác công – tư đến các sáng kiến tự nguyện. Sự phù hợp và tính hiệu quả của việc áp dụng một chính sách lên một quốc gia thường phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực hiện có và năng lực của quốc gia đó.
Chính phủ có thể áp dụng thông qua các chính sách tài khóa và tài chính công. Ví dụ, đầu tư công cho nghiên cứu và phát triển là một giải pháp hiệu quả nhằm khuyến khích sự đổi mới cần thiết sang một nền kinh tế xanh. Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, việc tiếp cận với nguồn vốn còn nhiều hạn chế, thì đầu tư công cho Kinh tế xanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua các nỗ lực về đầu tư công bền vững, Chính phủ cũng có thể kích cầu cho thị trường các sản phẩm và dịch vụ xanh.
Ngoài ra, Chính phủ cần điều chỉnh các tác động ngoại lai tiêu cực, bằng cách đảm bảo rằng giá cả phản ánh chi phí thực tế của hàng hoá và dịch vụ, bao gồm cả chi phí môi trường – điều mà thị trường thường không nắm bắt được; sử dụng công cụ thuế – chẳng hạn như thuế về ô nhiễm – cũng là những can thiệp về chính sách quan trọng cần được Chính phủ quan tâm nhiều hơn.
Một khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xanh và xử lý nghiêm các hình thức sản xuất và tiêu dùng gây hại cũng rất cần thiết. Nâng cao năng lực của Chính phủ và các bên liên quan, cũng như kêu gọi sự hỗ trợ từ phía cộng đồng có thể đóng góp vào quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế Xanh.
3.4. Những bước tiến đầu tiên của Việt Nam hướng tới nền kinh tế xanh
3.4.1. Việt Nam tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và các điều ước quốc tế về môi trường
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế Xanh, Việt Nam đã có những thay đổi và bước ngoặt quan trọng. Việt Nam tham gia UNEP từ năm 1977, khi Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc. Đây là tổ chức duy nhất của hệ thống Liên hợp quốc được thành lập nhằm mục đích đưa ra những đường lối có tính chỉ đạo và các chương trình hành động toàn cầu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống mà không gây tổn hại cho thế hệ tương lai.
Việt Nam đóng góp tự nguyện cho Quỹ Môi trường tự nguyện của UNEP với mức đóng góp 7.000 đô la Mỹ một năm. Đến nay, Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế sau về môi trường: Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (9/1987); Công ước về trợ giúp trong sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ (9/1987); Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (10/87); Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim (1/1989); Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tầu biển gây ra (5/1991); Công ước đa dạng sinh học (5/1993); Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ diệt chủng (1/1994); Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ô zôn (1994); Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng ô zôn (1/1994); Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (16/11/1994); Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hại qua biên giới và việc tiểu huỷ chúng (3/1995); Công ước chống hoang mạc hoá (1996); Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (6/2002); Nghị định thư Kyoto (25/9/2002); Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học của Công ước đa dạng sinh học (01/2004); Công ước Rotterdam về các thủ tục thỏa thuận thông báo trước một số hóa chất và thuốc trừ sâu nguy hại trong thương mai quốc tế (PIC – có hiệu lực từ ngày 05/ 8/ 2007).
3.4.2. Thực hiện xanh hóa các ngành kinh tế
– Trong nông nghiệp
Hiện nay ở Việt Nam, tình trạng thoái hóa đất, suy thoái tài nguyên nước; suy thoái các hệ sinh thái và suy giảm đa dạng sinh học… đang diễn ra ở nhiều nơi. Đa số các nông hộ, trang trại chưa được tuyên truyền, phổ biến những kiến thức và hiểu biết về phát triển “Kinh tế Xanh” và những lợi ích to lớn của nó. Cơ cấu cây trồng chưa hợp lý vì hiện nay việc thâm canh tăng vụ để tăng sản lượng đang diễn ra ở khắp các địa phương trong cả nước. Tác động của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… vẫn là mối đe dọa thường xuyên và gây tổn thất không ít cho phát triển nông nghiệp nói chung cũng như phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững.
Mô hình làng sinh thái được Viện Kinh tế sinh thái nghiên cứu và thử nghiệm xây dựng từ năm 1993. Đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức, ban ngành đã xây dựng thành công nghiều dự án Làng sinh thái lựa chọn tại 3 loại vùng sinh thái đặc thù, kém bền vững, từ vùng đồng bằng ngập úng nước, vùng cát hoang hóa ven biển cho đến những vùng đất trống đồi trọc.
Mô hình canh tác cà phê bền vững ở Gia Lai là một dạng của hệ thống nông lâm kết hợp, được áp dụng nhiều ở vùng Tây Nguyên. Người trồng cà phê thường trồng xen cây cà phê với sầu riêng, tiêu, điều hoặc muồng đen, hoặc trồng thêm cây lạc dại để che phủ đất, bảo vệ tầng đất mặt, giúp chống xói mòn và rửa trôi ở vùng đất dốc. Cà phê là cây ưa bóng nên trồng xen cây sầu riêng trong vườn không chỉ cho thu nhập thêm từ thu hoạch sầu riêng mà còn có tác dụng che bóng và chăn gió, giữ ẩm cho cây cà phê, giúp cà phê sinh trưởng và phát triển tốt hơn.
Nhiều hộ dân ở xã Cộng Hòa (Hải Dương) đầu tư mở rộng chăn nuôi lợn thịt, mỗi năm thu lợi 70 triệu đồng sau chi phí. Bên cạnh đó, người dân còn tận dụng nguồn phân lợn và xử lý chất thải, tránh ô nhiễm môi trường, các hộ gia đình còn đầu tư xây dựng hầm biogas với mục đích làm chất đốt. Sau một thời gian, người dân lấy phần chất thải còn lại trong hầm biogas trộn với vôi và lân, trát bùn lên phía trên, để từ 1 đến 2 tháng bón cho cây trồng. Như vậy, mô hình này vừa mang lại lợi ích kinh tế, giảm chi phí đầu tư cho phân bón cây trồng, tạo việc làm cho lao động địa phương, không lảm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cũng như môi trường xung quanh.

– Trong công nghiệp:
Việt Nam hướng đến công nghệ xây dựng xanh: Để hướng tới phát triển bền vững, Chính phủ đã đưa ra những chính sách cụ thể như: “Chương trình Nghị sự 21 ở Việt Nam”, bước đầu đưa ra những định hướng khung để các Bộ, ngành và địa phương triển khai hành động. Ngành Xây dựng đã và đang triển khai các hoạt động nhằm cụ thể hóa và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững như: triển khai thực hiện “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050”, “Định hướng phát triển cấp nước đô thị Quốc gia đến năm 2020”, “Định hướng phát triển thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2020”, “Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020”…
Để giảm phát thải nhà kính, theo Thứ trưởng thường trực Bộ Xây dựng Cao Lại Quang, việc nghiên cứu, sử dụng VLXD thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên; các giải pháp quy hoạch – kiến trúc đô thị, áp dụng các thiết bị kỹ thuật công trình có hiệu suất cao nhằm tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính; các giải pháp công nghệ thích hợp xử lý chất thải đô thị … “Xây dựng xanh”, “Công trình xanh” , “Đô thị xanh” là những mục tiêu cụ thể ngành Xây dựng Việt Nam hướng đến trong những năm tới.
Tại TP.HCM đã có một số công trình xây dựng sử dụng năng lượng xanh cho hiệu quả thấy rõ. Tại Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, chiếc cầu Ánh Sao dài 154m, rộng 8m bắc qua kênh Thầy Tiêu được đầu tư 50 tỷ đồng thật đặc biệt. Trên mặt sàn và dưới đáy dầm cầu được bố trí rãi khắp đèn LED màu. Để thắp sáng những đèn LED (đèn tiết kiệm năng lượng) một hệ thống những tấm pin thu năng lượng mặt trời cặp theo bên hông cầu phía hạ lưu và hệ bình ắc quy trữ điện. Nhờ năng lượng này chiếc cầu sáng điện quanh năm, đặc biệt chi phí về năng lượng để trang trí chiếc cầu chỉ bằng 1/5 so với sử dụng điện thông thường.Tại TP.HCM, nếu chuyển toàn bộ hệ thống chiếu sáng công cộng dùng điện sang năng lượng mặt trời sẽ tiết kiệm được hơn 73 triệu kWh/năm. Tuy nhiên trong số 100.000 trụ đèn chiếu sáng công cộng ở TPHCM, chỉ mới có 32 trụ đèn chiếu sáng dùng năng lượng sạch.
Một mũi nhọn nữa của chiến lược kinh tế Xanh mà Việt Nam đang hướng đến là quản lý, xử lý và tái sử dụng chất thải.
Mới đây, Viện Vật liệu xây dựng vừa chế tạo và chuyển giao công nghệ thành công dây chuyền tái chế rác thải nilon thành dầu đốt công suất 2,5 tấn dầu/ngày cho Công ty CP môi trường Việt Nam (Đà Nẵng). Thành công này ghi dấu ấn về sự hình thành một công nghệ xử lý rác hoàn hảo mang thương hiệu Việt Nam. Công nghệ tái chế rác thải nilon thành dầu đốt được thực hiện qua các quá trình tách loại tạp chất và xử lý nilon, quá trình nhiệt phân xúc tác phá vỡ cấu trúc mạch polymer của nilon và quá trình tách phân đoạn sản phẩm. Sản phẩm của công nghệ bao gồm: 15-25% Khí gas được xử lý và sử dụng đốt cấp nhiệt cho lò nhiệt phân; 60-65% nhiên liệu lỏng (dầu PO) có thành phần là các hydrocacbon tương tự như trong hỗn hợp xăng dầu từ dầu mỏ và 5- 10% tro than. Sản phẩm dầu đốt có nhiệt trị cao từ 10.000 -11.000 Kcal/kg sẽ là nguồn nhiên liệu tốt có thể thay thế 1 phần hoặc 100% cho các lò đốt đang sử dụng dầu DO và FO hiện nay. Theo đó, công nghệ này không chỉ giảm thiểu tối đa chôn lấp rác thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà đặc biệt là tận thu, tái chế các thành phần khó phân huỷ trong rác thải sinh hoạt lại vừa tạo ra nguồn năng lượng tái tạo cho các nhà máy sản xuất công nghiệp sử dụng dầu đốt tại địa phương. Hiện ngoài Công ty CP Môi trường Việt Nam tại Đà Nẵng, Viện Vật liệu xây dựng con chuyển giao một dây chuyện công nghệ tương tự tại Rạch Giá, Kiên Giang. Hiện nay, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã liên hệ với Viện đặt vấn đề về việc lắp đặt dây chuyền này.

3.5. Chiến lược phát triển Kinh tế Xanh trong tương lai:
Lựa chọn con đường xanh hóa nền kinh tế là một lựa chọn tất yếu và cần được cân nhắc trong quá trình xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2010. Để thực hiện hóa mô hình phát triển này, một số khuyến nghị sau nên được cân nhắc, áp dụng:
Thứ nhất, kinh nghiệm cho thấy phát triển kinh tế Xanh là một quá trình lâu dài, thậm chí trước mắt chưa thể đem lại lợi ích, nên các nước đều có chiến lược phát triển xanh dài hạn gắn với chiến lược phát triển chung, kết hợp đầu tư lớn của Chính phủ. Kế hoạch tổng thể về phát triển kinh tế- xã hội cần: (i) phản ánh được mục tiêu và chiến lược phát triển chung của nền kinh tế với những ưu tiên dành cho những ngành có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới tình trạng việc làm và GDP, đồng thời tạo ra lợi ích môi trường đáng kể và rõ rệt. Các lĩnh vực theo thứ tự ưu tiên có thể là phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng hệ thống giao thông bền vững xây dựng các tòa nhà hiệu quả, khai thác, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, sản xuất và quản lý sử dụng nguồn nước sạch, đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng sinh thái và phát triển du lịch; (ii) bao gồm kế hoạch hành động/ chương trình quốc gia về tiêu dùng và sản xuất bền vững (SCP) theo hướng dẫn của Liên hợp quốc; (iii) kế hoạch tập trung ngân sách đầu cho các khu vực kinh tế theo quy hoạch phát triển. Để làm được điều đó, Việt Nam trước hết cần nhận định và đánh giá lại tình hình phát triển; cơ hội và thách thức của từng ngành theo các tiêu chí phát triển xanh quốc tế.
Thứ hai, điều chỉnh và xây dựng hệ thống luật pháp phù hợp với tập quán quốc gia và phù hợp với thông lệ quốc tế theo xu hướng phát triển kinh tế Xanh. Hệ thống pháp lý toàn diện và tinh vi sẽ là cơ sở tốt cho việc đưa ra các chính sách quản lý phát triển kinh tế phù hợp ở các cấp, các ngành. Về việc này, học hởi kinh nghiệm của các nước đi trước là điều rất cần thiết.
Thứ ba, tận dụng các gói kích thích kinh tế để đầu tư cho các khu vực kinh tế Xanh và tái cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh đó Chính phủ cần có những biện pháp chính sách nhằm thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, khu vực nước ngoài, hỗ trợ về kỹ thuật cũng như tài chính từ cộng đồng quốc tế cho các khu vực kinh tế Xanh.
Thứ tư, bên cạnh việc có chính sách hỗ trợ và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào các ngành, lĩnh vực kinh tế Xanh, cần quyết liệt hơn trong việc bảo vệ môi trường, đưa chi phí bảo vệ và khôi phục môi trường vào cân đối tính toán khi quyết định đầu tư. Rà soát và từng bước nâng cao các tiêu chuẩn công nghệ, môi trường, đồng thời tăng cường quản lý chuyển giao và nhập khẩu công nghệ, nhất là khi một số nước tranh thủ cơ hội tái cơ cấu kinh tế để di chuyển công nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường ra ngoài (thép, xi măng, hóa chất độc hại…).
Thứ năm, tăng cường đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đặc biệt là các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ sinh khối, năng lượng thay thế. Mặt khác, Chính phủ cần đưa ra các chính sách khuyến khích hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, tiếp nhận các công nghệ hiện đại của các quốc gia trên thế giới. Chú trọng đào tạo nguồn nhận lực đáp ứng được nhu cầu lao động, cả về số lượng, chất lượng, ở các khu vực kinh tế được mở rộng và các ngành mới phát triển của nền kinh tế Xanh.